Tuesday, September 13, 2011

IFRS Training material - Trình bày BCTC

Gửi các thầy cô một số tài liệu training của IASB về IFRS dành cho SME.
Link 1: http://hotfile.com/dl/129752746/a89d19e/ifrs-sme-training-material.rar.html
Link 2: http://www.mediafire.com/?287kx9l46i97wr4

--
Vũ Hữu Đức

Tài liệu sinh hoạt ngày 16/9

Xin gửi đến các thầy cô tài liệu dành cho buổi sinh hoạt chuyên môn ngày 16/9 với đề tài: Chuẩn mực kế toán Việt Nam - Trình bày báo cáo tài chính (phần 1).
Các chuẩn mực được trình bày gồm có:
VAS 21 - Trình bày BCTC
VAS 23 - Sự kiện sau ngày khóa sổ lập BCTC
VAS 26 - Các bên liên quan.
Link 1: 
Link 2:
Ngoài ra, trong buổi sinh hoạt này, một phần nội dung về phân tích vốn lưu chuyển thuần sẽ được trình bày theo slide đã post lên hôm trước:

Monday, September 5, 2011

Tài liệu đọc trước


Xin chú ý: Buổi trình bày về chuẩn mực kế toán dời lại sang ngày 16/9/2011.
Gửi đến các thầy cô một số tài liệu để đọc trước.
Các chuẩn mực kế toán Việt Nam 21, 23 và 26
Các chuẩn mực quốc tế số 1, 10 và 24.


Saturday, August 27, 2011

Chuyên đề chuẩn mực kế toán



Chuẩn mực kế toán (gọi đầy đủ là chuẩn mực kế toán tài chính) hiểu theo nghĩa hẹp, là một hệ thống các quy định kế toán bắt nguồn từ các quốc gia Anglo-Saxon, bao gồm các nguyên tắc và hướng dẫn trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Chuẩn mực kế toán thường được được phát triển theo kiểu:
- Các chuẩn mực không ra đời cùng một lúc như một hệ thống, mà hình thành theo yêu cầu của thực tế và khả năng giải quyết vấn đề của tổ chức lập quy.
- Mỗi chuẩn mực chỉ giải quyết một hoặc một số vấn đề kế toán.
Chính vì lý do trên mà khuôn mẫu lý thuyết kế toán đã ra đời để tạo lập một nền tảng cho các chuẩn mực, một mặt giảm thiểu khả năng mâu thuẫn về phương pháp luận giữa các chuẩn mực và mặt khác, tạo cơ sở xử lý những vấn đề mà chuẩn mực chưa quy định.
Những năm gần đây, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và một số tổ chức lập quy ban hành chuẩn mực kế toán với tên gọi “chuẩn mực báo cáo tài chính”. Về thực chất không có sự khác biệt, ngoại trừ định hướng hội tụ kế toán quốc tế, theo hướng hình thành một hệ thống chuẩn mực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường vốn quốc tế.
Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB) gần đây đã tổng hợp các chuẩn mực kế toán tài chính riêng biệt, thay thế bằng một hệ thống gọi là Accounting Standards Codification, với 9 nhóm chuẩn mực phân theo chủ đề.
Các chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành từ năm 2001 như một nỗ lực hội nhập quốc tế về kế toán. Trong những năm qua, có 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành. Các chuẩn mực kế toán Việt Nam được biên soạn trên nền tảng chuẩn mực kế toán quốc tế của IASB có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Để có thể áp dụng vào thực tế phù hợp với các chế độ kế toán Việt Nam (được ban hành dưới tên gọi Hệ thống kế toán doanh nghiệp), các chuẩn mực được hướng dẫn bởi các thông tư của Bộ Tài chính.
Mặc dù vậy, trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp dựa vào Hệ thống kế toán Việt Nam hơn là các chuẩn mực. Việc giảng dạy kế toán tại nhiều trường đại học cũng tập trung vào hệ thống tài khoản kế toán hơn là tiếp cận từ chuẩn mực.
Chuyên đề chuẩn mực kế toán Việt Nam được trình bày với mục đích cung cấp thông tin và thảo luận về các chuẩn mực, nhằm giúp các thầy cô có điều kiện nghiên cứu sâu hơn vấn đề này, phục vụ cho việc giảng dạy trên nền tảng chuẩn mực.
Vì thời gian ngắn, nên trong mỗi chuẩn mực chỉ trình bày 2 vấn đề chính:
- Các nguyên tắc cơ bản (dùng khuôn mẫu lý thuyết để giải thích)
- Các vấn đề phức tạp hay còn tranh luận
Dự kiến nội dung các buổi như sau:
Buổi 1: Trình bày BCTC phần 1
- VAS 21 (Trình bày BCTC)
- VAS 23 (Sự kiện sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm)
- VAS 26 (Các bên liên quan)
Buổi 2: Trình bày BCTC phần 2
- VAS 27 (BCTC giữa niên độ),
- VAS 28 (BCTC bộ phận)
- VAS 29 (Thay đổi CSKT, ƯTKT và SS)
- VAS 30 (Lãi trên cổ phiếu)
Buổi 3: Các yếu tố BCTC phần 1
- VAS 2 (Hàng tồn kho),
- VAS 3 (TSCĐ hữu hình)
- VAS 5 (Bất động sản đầu tư)
Buổi 4: Các yếu tố BCTC phần 2
- VAS 4 (TSCĐ vô hình)
- VAS 6 (Thuê tài sản)
- VAS 10 (Tỷ giá)
- VAS 18 (Dự phòng phải trả)
Buổi 5: Các yếu tố của BCTC phần 3
- VAS 14 (Doanh thu)
- VAS 15 (HĐ xây dựng)
- VAS 16 (CP đi vay)
- VAS 17 (Thuế TNDN)
Phụ trách về chuyên đề này là TS. Vũ Hữu Đức và TS. Nguyễn Thị Kim Cúc.

Monday, August 22, 2011

Chia sẻ tài liệu - Kế toán công cụ tài chính



Kế toán công cụ tài chính là một thách thức lớn cho chúng ta vì khối lượng những khái niệm rất nhiều và chuẩn mựclại khá khó hiểu. Cô Nguyễn Thị Thu Hiền, một thành viên của chương trình sinh hoạt chuyên môn gửi đến các thầy cô một tài liệu học tập giới thiệu về vấn đề một cách dễ hiểu kèm theo các bài tập và thí dụ.

Link:

http://www.mediafire.com/?uh8sfxruy5272ax

Cảm ơn cô Hiền và trân trọng giới thiệu với các thầy cô.

Sunday, August 21, 2011

Chia sẻ tài liệu - Chuẩn mực kế toán công quốc tế





Thầy Nguyễn Chí Hiếu, một thành viên có nhã ý gửi đến các thầy cô một tài liệu về kế toán khu vực công theo chuẩn mực quốc tế.

Link:

http://www.mediafire.com/?9wdm9qw259b9xpq

Ngoài ra, các thầy cô quan tâm lĩnh vực này có thể tìm thấy nhiều tài liệu của Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán khu vực công (thuộc IFAC) tại website sau:

http://www.ifac.org/PublicSector/



Saturday, August 20, 2011

Phân tích chiến lược



Phân tích chiến lược là điểm khởi đầu của phân tích báo cáo tài chính vì nó cho phép đặt doanh nghiệp trong bối cảnh của ngành nghề cũng như các định hướng chiến lược của doanh nghiệp. Không có phân tích chiến lược, việc phân tích kế toán hay phân tích tài chính sẽ mang tính “võ đoán” hơn là những hiểu biết cụ thể về doanh nghiệp.
Thí dụ:
Một công ty có tỷ suất sinh lời trên doanh thu là 2% có thể bị đánh giá là thấp. Nhưng nếu đặt trong bối cảnh một ngành nghề đang có cạnh tranh dữ dội do cầu giảm sút thì mức sinh lời đó là mơ ước của tất cả các doanh nghiệp trong ngành.
Hoặc ngay cả khi tỷ suất sinh lời trên doanh thu bình quân của ngành là 6% thì mức2% của doanh nghiệp cũng không thể đánh giá là kém nếu biết rằng doanh nghiệp đang theo đuổi chiến lược cạnh tranh bằng giá thấp để có thể đạt một số vòng quay tài sản lớn hơn.
Phân tích chiến lược bao gồm phân tích ngành, phân tích chiến lược cạnh tranh và phân tích chiến lược công ty.
  • Phân tích ngành dựa trên việc xem xét tình hình phát triển và cạnh tranh của ngành nghề. Mô hình Five Forces của Porter là một công cụ có thể giúp đánh giá được vấn đề này. Thí dụ, những ngành có mức độ tập trung cao sẽ ít có cạnh tranh hơn vì dễ có sự thoả hiệp giữa các doanh nghiệp trong ngành. Hoặc những ngành nghề có định phí lớn thường cạnh tranh gay gắt hơn do các doanh nghiệp có thể chấp nhận một giá bán thấp miễn là đủ bù đắp định phí không thể tránh khỏi.
  • Phân tích chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp tập trung vào việc xem xét doanh nghiệp đã chọn cho mình cách thức nào để tồn tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh của ngành. Mặc dù có những ý kiến tranh luận, ba chiến lược cạnh tranh chủ yếu mà Porter đưa ra cũng giúp đánh giá được vấn đề này. Thí dụ, một doanh nghiệp có thể chọn lựa chiến lược cạnh tranh dựa trên sự khác biệt sản phẩm, dịch vụ trong khi một doanh nghiệp khác dựa trên chi phí thấp để cạnh tranh.
  • Phân tích chiến lược công ty là xem xét cách thức một công ty đa ngành đã vận hành thế nào để phát huy lợi thế này trong phát triển, hoặc ngược lại đã thất bại trong chiến lược đa ngành của mình.

Popular Posts