Showing posts with label D1-Phân tích và thảo luận. Show all posts
Showing posts with label D1-Phân tích và thảo luận. Show all posts

Friday, June 28, 2013

Lợi thế thương mại - Đánh giá tổn thất




















Từ năm 2004, IFRS yêu cầu đánh giá tổn thất lợi thế thương mạo (LTTM) thay vì phân bổ như IAS 22. Trong khi đó, US GAAP đã yêu cầu thực hiện điều này từ năm 2001. Bài viết này tóm tắt những yêu cầu của IFRS và US GAAP cập nhật đến nay.

SFAS 142 (revised 2010)

Phương pháp đánh giá

Việc đánh giá tổn thất gồm 2 bước:

  • Bước 1: So sánh giữa giá trị hợp lý (fair value - FV) của bộ phận báo cáo (reporting unit) với giá trị sổ sách của nó. Nếu FV nhỏ hơn giá trị sổ sách, tổn thất có khả năng xảy ra, kế toán sẽ làm bước 2.
  • Bước 2: So sánh giữa FV ngầm định của LTTM với giá trị sổ sách của LTTM. Nếu FV ngầm định nhỏ hơn giá trị sổ sách của goodwill, khoản chênh lệch sẽ được ghi nhận vào lỗ.

Cách tính FV ngầm định của goodwill:

  • Tính FV của toàn bộ đơn vị báo cáo
  • Phân bổ FV cho tất cả tài sản và nợ phải trả như là trong 1 giao dịch mua công ty (bao gồm cả tài sản vô hình chưa được ghi nhận).
  • FV ngầm định của goodwill = FV của đơn vị báo cáo – FV của tài sản thuần.

Đối tượng đánh giá

Đối tượng đánh giá tổn thất LTTM là bộ phận báo cáo. Bộ phận báo cáo (reporting unit) được định nghĩa là một bộ phận hoạt động (operating segment – theo khái niệm của chuẩn mực về báo cáo bộ phận) hoặc thấp hơn một cấp (gọi là thành phần -component). Một thành phần sẽ được xem là một bộ phận báo cáo khi nó có thông tin tài chính riêng và thường được nhà quản lý soát xét kết quả hoạt động. Nếu hai thành phần cùng một bộ phận hoạt động và có đặc điểm kinh tế như nhau thì được gộp lại như một bộ phận báo cáo để đánh giá.

Hoàn nhập

US GAAP không cho phép hoàn nhập khoản lỗ đã ghi nhận.

Thời điểm đánh giá
Tổn thất LTTM được đánh giá hàng năm và giữa năm nếu xảy ra các sự kiện đặc biệt có thể làm giá trị hợp lý của đơn vị báo cáo xuống thấp hơn giá trị sổ sách; ví dụ một thay đổi bất lợi trong môi trường kinh doanh.

Cập nhật
 
Gần đây, FASB có điều chỉnh phương pháp đánh giá tổn thất goodwill để giảm bớt gánh nặng chi phí (ASU 2011-08):
1/ Đầu tiên, áp dụng phương pháp đánh giá định tính để xem liệu có tổn thất không. Nếu không thì không cần đánh giá tổn thất.
2/ Nếu giá trị sổ sách của bộ phận báo cáo âm hoặc =0, thì thực hiện thẳng bước 2.

IFRS 3 và IAS 36 (2010)

Phương pháp đánh giá

Theo IAS 36, việc đánh giá tổn thất chỉ có 1 bước: So sánh giữa giá trị có thể thu hồi (recoverable amount) với giá trị sổ sách của bộ phận tạo ra tiền (cash-generated unit). Nếu giátrị thu hồi thấp hơn giá trị sổ sách, phần chênh lệch sẽ là lỗ tổn thất. Lỗ tổn thất trước hết được ghi giảm goodwill, phần còn lại sẽ giảm cho các tài sản khác trên cơ sở giá trị sổ sách của các tài sản này.

Cách tính giá trị có thể thu hồi:
Giá trị có thể thu hồi là số tiền lớn hơn giữa FV trừ chi phí bán với giá trị sử dụng (value in use). Giá trị sử dụng là giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai.

Một ví dụ về phương pháp đánh giá LTTM và thuyết minh về chính sách trên BCTC:

A European communications company describes its process for estimating recoverable amount:

“During the fourth quarter of 2009, [the Company] tested the value of goodwill allocated to its cash-generating units (CGU) or groups of CGUs applying the same valuation methods used every year... The recoverable amount is determined as the higher of the value in use determined by the discounted value of future cash flows (discounted cash flow method (DCF)) and the fair value (less costs to sell), determined based on market data (stock market prices, comparison with similar listed companies, comparison with the value attributed to similar assets or companies in recent transactions). The test was performed by [the Company] on the basis of an internal valuation of the recoverable amounts, except in the case of [two CGUs] for which [the Company] required the assistance of independent experts. Regarding [the first CGU], the recoverable amount was determined using usual valuation methods (DCF and stock market multiples) using financial assumptions consistent with previous years, which are as follows regarding the DCF method: discount rate of 8.50% (compared to 9.30% as of December 31, 2008) and perpetual growth rate of 1.00% (unchanged compared to December 31, 2008)... management concluded that the carrying value exceeded the recoverable amount of [the CGU] and consequently recognized an impairment loss of €616 million as of December 31, 2009...”
(Nguồn: E&Y, Impairment of long-lived assets, goodwill and intangible assets - US GAAP and IFRS - Media & Entertainment)

Đối tượng đánh giá
Đối tượng đánh giá tổn thất là đơn vị tạo ra tiền (cash-generating unit – viết tắt CGU). Theo IAS 36, CGU của một tài sản là nhóm tài sản nhỏ nhất có bao gồm tài sản đó và tạo ra dòng tiền vào độc lập một cách đáng kể với các dòng tiền từ các tài sản khác hoặc các nhóm tài sản khác.

Một ví dụ về cách xác định đối tượng đánh giá của IFRS so sánh với US GAAP:

"A media company has two operating segments: music and television. The music segment has three divisions: music recording, merchandising and music publishing. Each division has discrete cash inflows and financial information, which includes a goodwill allocation from acquisitions that benefit that division. Management regularly reviews the operating results of each division.

  • Under US GAAP, the three music divisions are each “components.” The company aggregated the music divisions (components) together as a “music” reporting unit for goodwill allocation and impairment testing, because they had similar economic characteristics, and thus qualified for aggregation as a reporting unit under US GAAP.
  • Under IFRS, the three music divisions are each CGUs. Because each division is a CGU, and goodwill is monitored at the division level, management is required to assess goodwill impairment for each music division separately."

(Nguồn: E&Y, Impairment of long-lived assets, goodwill and intangible assets - US GAAP and IFRS - Media & Entertainment)

Hoàn nhập
Trước đây, IAS 36 cho phép hoàn nhập khi tổn thất không còn nữa. Tuy nhiên, từ năm 2004, việc hoàn nhập này không còn được phép nữa.

Thời điểm đánh giá
IAS 36 yêu cầu đánh giá tổn thất hàng năm, tuy nhiên cho phép đánh giá vào bất kỳ thời điểm nào trong năm với điều kiện việc đánh giá được thực hiện cùng thời điểm vào mỗi năm. Các CGU khác nhau có thể có thời điểm đánh giá khác nhau.

Một ví dụ về cách xác định thời điểm đánh giá:

"A US multimedia company applying IFRS determines that the optimal time for assessing impairment for its CGUs are as follows:
  • Advertising — in May, because that is when it purchases the “up fronts” for the next season
  • Film — in December, which is the end of the Christmas film season and coincides with its fiscal year-end."
(Nguồn: E&Y, Impairment of long-lived assets, goodwill and intangible assets - US GAAP and IFRS - Media & Entertainment)

Tuesday, June 12, 2012

Vốn hóa chi phí đi vay














Lược sử vấn đề

Một trong những chủ đề gây nhiều tranh luận trong kế toán trước đây là chi phí đi vay để phục vụ cho việc xây dựng hoặc chế tạo tài sản, sản phẩm có được vốn hóa – nghĩa là tính vào giá gốc tài sản không? Cho đến năm 2008, Vốn hóa chi phí đi vay là một điểm khác biệt giữa IFRS và US GAAP. IASB cho phép chọn một trong hai phương pháp:
  • Phương pháp chuẩn yêu cầu ghi ngay chi phí đi vay vào chi phí tài chính
  • Phương pháp thay thế yêu cầu các khoản chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến tài sản dở dang phải được vốn hóa khi thỏa các điều kiện.
Trong khi đó, FASB yêu cầu các khoản chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến tài sản dở dang phải được vốn hóa khi thỏa các điều kiện.

Trong chương trình hội tụ giữa US GAAP và IFRS, vấn đề này được đưa vào thành một dự án ngắn hạn, bắt đầu từ năm 2006 và kết thúc năm 2007 khi IASB ban hành IAS 23 điều chỉnh có hiệu lực từ 1.1.2009. IAS 23 (2007) quy định đã loại bỏ lựa chọn ghi nhận toàn bộ chi phí đi vay vào chi phí trong kỳ mà yêu cầu các chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến sự hình thành tài sản phải được vốn hóa.

Ở Việt Nam, chuẩn mực kế toán số 16 “Chi phí đi vay” (VAS 16) công bố năm 2002, yêu cầu chi phí đi vay được vốn hóa và như vậy, về cơ bản là phù hợp với cách xử lý của IAS 23 (2007).

Quan điểm của IASB khi yêu cầu vốn hóa

Trong phần Cơ sở cho Kết luận (Basis for Conclusions) của IAS 23 (2008), IASB có nêu và phân tích lập luận của hai bên “ủng hộ” và “phản đối” vốn hóa. Dưới đây là một số ý chính.

Quan điểm ủng hộ vốn hóa
Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc mua, xây dựng hay sản xuất tài sản dở dang là một phần chi phí cấu thành tài sản. Khi tài sản đang xây dựng hay sản xuất, cần có nguồn tài trợ và khoản tài trợ này làm phát sinh chi phí. Giá gốc của tài sản cần bao gồm tất cả chi phí cần thiết để tài sản sẵn sàng sử dụng hay để bán, bao gồm cả chi phí để tài trợ nói trên. Vì vậy, chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản phải được vốn hóa vào giá gốc của tài sản dở dang.

Quan điểm phản đối vốn hóa
Việc xác định sự liên quan giữa chi phí đi vay với tài sản dở dang là một vấn đề không dễ dàng, vì không phải lúc nào doanh nghiệp cũng vay cho một mục đích. Vốn vay có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Trong khi đó, việc ghi nhận ngay vào chi phí đơn giản hơn nhiều và không tạo gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp.
Tính so sánh có thể bị ảnh hưởng do việc vốn hóa. Giả sử hai doanh nghiệp xây dựng hai công trình tương tự. Doanh nghiệp thứ nhất vay và vốn hóa chi phí đi vay. Doanh nghiệp thứ hai không cần vay và do đó, không có khoản chi phí đi vay nào được vốn hóa. Như vậy, cấu trúc vốn của một doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến giá gốc của các tài sản mà nó sản xuất/xây dựng.

Giải thích của IASB
IASB cho rằng trên quan điểm giá gốc tài sản phải phản ảnh tất cả các chi phí cần thiết cho tài sản sẵn sàng sử dụng hay bán, việc vốn hóa chi phí đi vay là cần thiết.
Công thức tính toán chi phí đi vay được vốn hóa dựa trên chi phí lũy kế bình quân gia quyền của tài sản dở dang cho phép xác định chi phí đi vay liên quan đến tài sản dở dang. Để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, IASB quy định IAS 23 (2007) sẽ được áp dụng không hồi tố.
Về khả năng so sánh, IASB đồng ý rằng cách làm này ảnh hưởng đến việc so sánh giữa hai trường hợp tài trợ bằng vốn vay và tài trợ bằng vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, IASB cũng cho rằng việc loại bỏ cách ghi nhận vào chi phí sẽ giúp tăng khả năng so sánh giữa tất cả các doanh nghiệp tài trợ bằng vốn vay.

Các câu hỏi đặt ra

Trong buổi hội thảo, các câu hỏi đặt ra là:

1/ Vấn đề vốn hóa chi phí đi vay sẽ áp dụng thế nào nếu một doanh nghiệp đi vay vừa có sản phẩm là tài sản dở dang vừa có các sản phẩm bình thường? Ví dụ, một công ty xây dựng vừa xây dựng các công trình có thời gian hoàn thành trên một năm (thỏa tiêu chuẩn tài sản dở dang), vừa sản xuất vật liệu xây dựng là các sản phẩm bình thường.

Trả lời: Cách thức xác định phần chi phí đi vay được vốn hóa theo VAS 16 dựa trên IAS 23 (có thể tham khảo công thức chi tiết hướng dẫn tại Thông tư 105/2003/TT-BTC) giúp tách biệt rõ phần chi phí đi vay nào quan hệ trực tiếp đến việc đầu tư tài sản dở dang:
  • Đối với các khoản vay riêng biệt, dễ dàng xác định chi phí đi vay liên quan.
  • Đối với các khoản vay chung, chỉ có các khoản chi phí đầu tư liên quan đến tài sản dở dang mới được đưa vào tính toán chi phí đi vay được vốn hóa. Các khoản chi phí đầu tư này được tính theo nguyên tắc lũy kế bình quân gia quyền nên phản ảnh khá tốt chi phí đi vay liên quan đến tài sản dở dang.
2/ Tại sao có một mốc phân biệt tài sản dở dang phải có thời gian hoàn thành là từ 12 tháng trở lên? Như vậy, cùng một công trình doanh nghiệp A hoàn thành nhanh hơn (ví dụ 11 tháng) sẽ không được vốn hóa trong khi doanh nghiệp B thi công chậm hơn thì chi phí đi vay sẽ được vốn hóa. Điều này liệu có công bằng không và có phản ảnh đúng thành quả của các doanh nghiệp không?

Trả lời: IAS 23 không quy định tiêu chí thời gian để xác định tài sản dở dang. Nguyên văn: “A qualifying asset is an asset that necessarily takes a substantial period of time to get ready for its intended use or sale”. Như vậy, nguyên tắc trọng yếu được áp dụng trong trường hợp này. Nghĩa là khi thời gian vay đủ dài thì đến mức có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính thì tài sản sẽ được xem là tài sản dở dang.

Ở VN, để dễ áp dụng thống nhất, VAS 16 đưa ra tiêu chí thời gian là 12 tháng, điều này giúp DN đỡ xét đoán tuy nhiên chắc chắn sẽ gây những rắc rối khi vận dụng trong những trường hợp “cận ngưỡng” như ví dụ trong câu hỏi. Tuy nhiên, điều này phải chấp nhận ở VN như một “đánh đổi” cho việc dễ áp dụng, giảm sự xét đoán vốn là vấn đề thường gây tranh cãi ở VN.

Nếu gạt bỏ vấn đề “cận ngưỡng” trên mà đi vào câu hỏi công bằng và phản ảnh đúng thành quả, thì có thể lý giải như sau:
  • Trước hết cần lưu ý là ở đây không xét trường hợp thời gian thi công dài hay ngắn là do gián đoạn thi công. Vì theo VAS 16 cũng như IAS 23, phần chi phí đi vay trong giai đoạn này không được vốn hóa. Dưới đây chỉ xét trường hợp khác biệt về thời gian thi công do kỹ thuật, trình độ thi công khác nhau.
  • Xét về phương diện công bằng: Trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính thì không có tiêu chuẩn công bằng. Vấn đề là có trung thực hay không mà thôi. Khi doanh nghiệp xây cất tốn thời gian dẫn đến chi phí đi vay phải vốn hóa, thì giá trị tài sản doanh nghiệp làm ra phải tăng lên để phản ảnh đầy đủ chi phí đã tạo ra nó.
  • Xét về phương diện thành quả: Doanh nghiệp A thi công nhanh hơn sẽ có giá thành thấp hơn nên lợi nhuận từ kinh doanh cao hơn. Điều này nói đúng về thành quả của doanh nghiệp A. Tuy nhiên bên cạnh đó, chi phí tài chính cao hơn vì phải ghi vào khoản chi phí đi vay không được vốn hóa. Điều này sẽ dẫn đến người đọc báo cáo tài chính có thể đánh giá doanh nghiệp gánh chịu chi phí đi vay lớn hơn trong khi thực tế, chi phí đi vay của doanh nghiệp A nhỏ hơn doanh nghiệp thi công chậm B. Đây đúng là hạn chế của VAS 16 so với IAS 23. Lý do là IAS 23 chỉ căn cứ vào tính trọng yếu để quyết định.
Một bài viết về vấn đề vốn hóa chi phí đi vay khá dễ hiểu và có minh họa (tiếng Anh):

Tuesday, April 3, 2012

Xử lý chênh lệch tỷ giá - Phương pháp nào có lợi cho doanh nghiệp??




















Một bạn đọc (trang nguyen) góp ý:
" TT 201 hay VAS 10 đều có hiệu lực như nhau, nên các công ty có thể xử lý chênh lệch tỷ giá theo văn bản nào cũng đc. Nhưng TT 201/2009/TT-BTC thì Thuế áp dụng nên hầu hết các công ty áp dụng theo TT 201 cho tiện việc Thuế dễ kiểm tra,khỏi phải mất công điều chỉnh."

Đúng là sự khác biệt giữa VAS 10 và TT 201 có nguồn gốc sâu xa từ cách xử lý của thuế đối với chênh lệch tỷ giá. Những lập luận bảo vệ cho TT 201 dựa trên sự thuận lợi trong giải quyết quan hê giữa kế toán và thuế của doanh nghiệp. Cách xử lý TT 201 phù hợp với quy định của thuế trong xử lý chênh lệch tỷ giá, do đó doanh nghiệp áp dụng theo TT 201 sẽ không cần phải thực hiện việc điều chỉnh sự khác biệt giữa kế toán và thuế trên tờ khai quyết toán thuế, cũng như xử lý những vấn đề liên quan đến thuế hoãn lại.

Tuy nhiên, về mặt kế toán, đây lại là một vấn đề khác. Có thể nói TT 201 mâu thuẫn với Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 "Chuẩn mực chung" trong các định nghĩa về các yếu tố của báo cáo tài chính (tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí...). Khi khoản ngoại tệ được đánh giá lại tăng lên (hoặc giảm xuống), làm tăng (hoặc giảm) vốn chủ sở hữu mà không phải là góp vốn (hoặc phân phối vốn) nên sẽ thỏa mãn điều kiện của thu nhập (hoặc chi phí).Việc treo lại chênh lệch tỷ giá của các khoản ngắn hạn rồi hoàn nhập vào đầu kỳ sau không dựa trên một nền tảng lý luận nào về kế toán. Bên cạnh đó, việc hoãn ghi nhận các khoản lỗ do đánh giá lại các khoản nợ dài hạn và phân bổ sau đó không phù hợp với khái niệm chi phí.

Mặt khác, việc cho phép doanh nghiệp lựa chọn giữa các chính sách kế toán quá khác biệt, sẽ làm ảnh hưởng rất xấu đến khả năng so sánh được của báo cáo tài chính, có thể tác động nghiêm trọng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.

Do đó, TT201 về phương diện nào đó làm cho hệ thống kế toán Việt Nam trở nên lủng củng do chứa đựng những mâu thuẫn nội tại bên trong. Việc thuyết minh bổ sung thực ra chỉ là một giải pháp chắp vá.

Monday, March 5, 2012

Chênh lệch tỷ giá - VAS 10 hay Thông tư 201














Quý Thầy, Cô kính mến!

Về vấn đề này, tôi xin có ý kiến như sau:
  • Thông tư 105 đã bị bãi bỏ bởi Thông tư 161.
  • Các hãng kiểm toán (Big 4) ưu tiên sử dụng Chuẩn mực kế toán số 10. Đương nhiên các công ty vẫn có quyền sử dụng thông tư 201
  • Ngày 4/02/2012, UBCK Nhà nước  đã có Công văn hướng dẫn về vấn đề này: Các công ty cần tuân thủ CMKT số 10, nếu theo 201 thì phải trình bày sự khác biệt. Gửi kèm Văn bản quý thầy cô tham khảo:  http://www.mediafire.com/?mkmp77sb8tjcmp1

Kính chào quý thầy cô.

NGUYỄN CHÍ HIẾU

Sunday, March 4, 2012

Chênh lệch tỷ giá - VAS 10 hay Thông tư 201













Kính thưa Quý thầy cô,
 Điệp mong Quý thầy cô dành ít thời gian trao đổi với Điệp về vấn đề tỷ giá áp dụng cho niên độ 2012. Thực tế, tại hầu hết các doanh nghiệp, ngay cả các tập đoàn lớn như Trường Hải, kế toán không áp dụng chuẩn mực kế toán kế toán số 10 và các thông tư hướng dẫn liện quan đến kế toán mà lại áp dụng thông tư 201/2009/TT-BTC về chênh lệch tỷ giá.
Khi công ty kiểm toán đến kiểm toán các doanh nghiệp này cũng tạo ra những tranh cải giữa công ty kiểm toán và doanh nghiệp. Điệp mạnh dạn tập hợp các văn bản liên quan gửi đến Quý thầy cô, trong đó cũng nêu rõ quan điểm cá nhân của mình về vấn đề xử lý chênh lệch tỷ giá cuối năm:
 Kính mong Quý thầy cô góp thêm ý kiến cá nhân để làm rõ hơn về vấn đề này, phục vụ cho giảng dạy.
Điệp cảm ơn Quý thầy cô,
NGÔ HOÀNG ĐIỆP

Saturday, August 20, 2011

Phân tích chiến lược



Phân tích chiến lược là điểm khởi đầu của phân tích báo cáo tài chính vì nó cho phép đặt doanh nghiệp trong bối cảnh của ngành nghề cũng như các định hướng chiến lược của doanh nghiệp. Không có phân tích chiến lược, việc phân tích kế toán hay phân tích tài chính sẽ mang tính “võ đoán” hơn là những hiểu biết cụ thể về doanh nghiệp.
Thí dụ:
Một công ty có tỷ suất sinh lời trên doanh thu là 2% có thể bị đánh giá là thấp. Nhưng nếu đặt trong bối cảnh một ngành nghề đang có cạnh tranh dữ dội do cầu giảm sút thì mức sinh lời đó là mơ ước của tất cả các doanh nghiệp trong ngành.
Hoặc ngay cả khi tỷ suất sinh lời trên doanh thu bình quân của ngành là 6% thì mức2% của doanh nghiệp cũng không thể đánh giá là kém nếu biết rằng doanh nghiệp đang theo đuổi chiến lược cạnh tranh bằng giá thấp để có thể đạt một số vòng quay tài sản lớn hơn.
Phân tích chiến lược bao gồm phân tích ngành, phân tích chiến lược cạnh tranh và phân tích chiến lược công ty.
  • Phân tích ngành dựa trên việc xem xét tình hình phát triển và cạnh tranh của ngành nghề. Mô hình Five Forces của Porter là một công cụ có thể giúp đánh giá được vấn đề này. Thí dụ, những ngành có mức độ tập trung cao sẽ ít có cạnh tranh hơn vì dễ có sự thoả hiệp giữa các doanh nghiệp trong ngành. Hoặc những ngành nghề có định phí lớn thường cạnh tranh gay gắt hơn do các doanh nghiệp có thể chấp nhận một giá bán thấp miễn là đủ bù đắp định phí không thể tránh khỏi.
  • Phân tích chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp tập trung vào việc xem xét doanh nghiệp đã chọn cho mình cách thức nào để tồn tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh của ngành. Mặc dù có những ý kiến tranh luận, ba chiến lược cạnh tranh chủ yếu mà Porter đưa ra cũng giúp đánh giá được vấn đề này. Thí dụ, một doanh nghiệp có thể chọn lựa chiến lược cạnh tranh dựa trên sự khác biệt sản phẩm, dịch vụ trong khi một doanh nghiệp khác dựa trên chi phí thấp để cạnh tranh.
  • Phân tích chiến lược công ty là xem xét cách thức một công ty đa ngành đã vận hành thế nào để phát huy lợi thế này trong phát triển, hoặc ngược lại đã thất bại trong chiến lược đa ngành của mình.

Monday, August 15, 2011

Phân tích kế toán


Phân tích kế toán là gì?
Phân tích kế toán – gọi một cách đầy đủ là phân tích báo cáo tài chính dưới góc độ kế toán – là việc đánh giá các chính sách kế toán được sử dụng để lập báo cáo tài chính; qua đó giúp nhà phân tích xem xét khả năng cung cấp thông tin trung thực và có thể so sánh của báo cáo tài chính.
Thí dụ:
Khi đọc báo cáo tài chính của một doanh nghiệp kinh doanh thức ăn nhanh qua mạng lưới các cửa hàng, nhà phân tích cần chú ý việc doanh nghiệp đã ghi nhận hợp đồng thuê các cửa hàng như thế nào? Lý do là phần lớn các cửa hàng này có được qua những hợp đồng thuê dài hạn, không có quyền hủy ngang. Doanh nghiệp có thể lợi dụng vùng xám của các quy định kế toán để ghi nhận như một khoản thuê hoạt động. Điều này làm xuất hiện khả năng báo cáo tài chính không phản ảnh đầy đủ các khoản nghĩa vụ phải trả của doanh nghiệp; từ đó sẽ làm người đọc đánh giá sai về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Một tác dụng nữa của phân tích kế toán là giúp nhà phân tích tiến hành các kỹ thuật điều chỉnh, lập lại báo cáo tài chính (restatement) để tăng chất lượng của báo cáo tài chính.
Thí dụ:
Tiếp tục trường hợp của doanh nghiệp kinh doanh thức ăn nhanh nói trên, nhà phân tích sẽ đọc thuyết minh báo cáo tài chính để lấy thông tin về các hợp đồng thuê hoạt động không có quyền hủy ngang, từ đó điều chỉnh lại báo cáo tài chính bổ sung các hợp đồng trên như những hợp đồng thuê tài chính. Các tỷ số sẽ được tính toán lại để cung cấp một góc nhìn mới về doanh nghiệp.
Phân tích kế toán còn hữu ích khi nghiên cứu về kế toán quốc tế. Các nhà phân tích xem xét báo cáo tài chính của các công ty được lập theo những chuẩn mực kế toán khác nhau, điều chỉnh lại sự khác biệt về chính sách kế toán để so sánh và định lượng mức độ chênh lệch của các tỷ số do ảnh hưởng của chính sách kế toán.
Một số câu hỏi thường gặp:
Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, liệu có cần phải phân tích kế toán hay không?
Trong nhiều trường hợp còn tranh luận, các chính sách kế toán có thể cho phép sự lựa chọn linh hoạt về chính sách kế toán. Điều này sẽ tạo ra những vùng xám trong quy định kế toán. Khi doanh nghiệp tận dụng những kẻ hở này thì các kiểm toán viên cũng khó lòng bác bỏ cách làm của doanh nghiệp.
Việc điều chỉnh lại báo cáo tài chính liệu có chính xác không?
Việc điều chỉnh chắc chắn sẽ không chính xác và cũng không yêu cầu chính xác. Nếu tận dụng những thông tin trên thuyết minh, với những ước tính gần đúng, các báo cáo tài chính đã điều chỉnh sẽ cung cấp thêm một góc nhìn khác về hoạt động của doanh nghiệp.
Thí dụ minh họa

Báo cáo tài chính của Mc'Donald 2010 thuyết minh như sau về các hợp đồng thuê của mình:
At December 31, 2010, the Company was the lessee at 13,957 restaurant locations through ground leases (the Company leases the land and the Company or franchisee owns the building) and through improved leases (the Company leases land and buildings). Lease terms for most restaurants, where market conditions allow, are generally for 20 years and, in many cases, provide for rent escalations and renewal options, with certain leases providing purchase options. Escalation terms vary by geographic segment with examples including fixed-rent escalations, escalations based on an inflation index, and fair-value market adjustments. The timing of these escalations generally ranges from annually to every five years. For most locations, the Company is obligated for the related occupancy costs including property taxes, insurance and maintenance; however, for franchised sites, the Company requires the franchisees to pay these costs. In addition, the Company is the lessee under noncancelable leases covering certain offices and vehicles.
Future minimum payments required under existing operating leases with initial terms of one year or more are:


Với thông tin trên cácnhà phân tích có thể điều chỉnh báo cáo tài chính của công ty để xác định lại tình hình tài chính của công ty.

Thursday, August 11, 2011

Quan hệ giữa ROE, lãi suất và tỷ suất sinh lời



Một trong những cách đánh giá đòn bẩy tài chính là so sánh giữa lãi suất và tỷ số sinh lời của doanh nghiệp (được đo bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho vốn chủ sở hữu cộng vốn vay). Về lý thuyết, khi lãi suất còn nhỏ hơn tỷ số sinh lời của doanh nghiệp thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính còn có tác dụng khuếch trương tỷ số ROE, tức là khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Ngược lại, khi lãi suất đã cao hơn tỷ số sinh lời của doanh nghiệp thì càng tăng đòn bẩy tài chính lên, ROE càng giảm do chi phí lãi vay làm cho hiệu quả kinh doanh giảm nhiều hơn mức tăng lên của đòn bẩy tài chính. Các thí dụ sau làm rõ khái niệm này.
Thí dụ 1: Hai công ty A và B có cùng tài sản, lợi nhuận và các khoản nợ không phải trả lãi nhưng cơ cấu tài chính khác nhau. Giả sử lãi suất vay là 10%.

A và B có cùng tỷ số sinh lời là 12,5% cao hơn lãi suất vay là 10%. B có mức sử dụng nợ cao hơn nên sẽ có mức ROE cao hơn. Điều này có nghĩa là trong điều kiện lãi suất đang thấp hơn tỷ số số sinh lời, việc tăng mức sử dụng nợ vay làm cho khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao hơn.
Thí dụ 2: Nếu lãi suất là 15%, bảng so sánh giữa hai doanh nghiệp sẽ thay đổi như sau:

Lúc này, lãi suất vay đã cao hơn tỷ số sinh lời. Doanh nghiệp B sẽ bất lợi hơn A vì có mức sử dụng nơ vay cao hơn. Điều này cũng đồng nghĩa là khi lãi suất vượt khỏi tỷ số sinh lời, doanh nghiệp B nên điều chỉnh cơ cấu tài chính của mình giống như A để giảm tổn thất ROE khi trong tình hình lãi suất bất lợi.
Thí dụ 3: Trường hợp lãi suất đúng bằng tỷ suất sinh lời là 12,5%, đòn bẩy tài chính thay đổi không tác động đến ROE.


Sunday, July 24, 2011

Tìm hiểu thêm về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp


Bài viết dưới đây của Cô Đặng Thị Kim Thúy trình bày một số quan điểm của ASB trong FRS 19, với mục đích cung cấp thêm thông tin cho các thầy cô về những ý kiến xoay quanh vấn đề phương pháp liability trong ghi nhận thuế hoãn lại cũng như phương pháp toàn phần.
TÌM HIỂU VỀ QUAN ĐIỂM CỦA ASB TRONG FRS 19
Giới thiệu ASB
FRS 19 được ban hành năm 2000 bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán Anh (ASB). Đây là tổ chức thuộc Hội đồng báo cáo tài chính (Financial Reporting Council – FRC). FRC là tổ chức lập quy độc lập của Anh, có trách nhiệm thúc đẩy các chuẩn mực chất lượng cao và báo cáo tài chính công ty và quản trị công ty. Ngoài ASB, thuộc FRC còn có các bộ phận khác như Uỷ ban chuẩn mực kiểm toán (APB), Uỷ ban giám sát nghề nghiệp (POB)…
ASB có mười thành viên, trong đó hai người làm việc toàn thời gian là Chủ tịch và Giám đốc kỹ thuật, số còn lại là những người đại diện cho lợi ích của các nhóm quyền lợi khác nhau, những người này làm việc bán thời gian. Theo Điều lệ của ASB, trong các cuộc họp, số phiếu biểu quyết cần thiết đủ để ra quyết định là 7 trong 10 thành viên của Hội đồng để : áp dụng, sửa đổi hoặc ngưng áp dụng một chuẩn mực kế toán nào đó.
Chuẩn mực kế toán mà ASB ban hành được áp dụng cho tất cả các công ty và mọi loại hình doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin trung thực hợp lý, đó chính là lời mở đầu trong các chuẩn mực kế toán.
Lập luận của ASB trong FRS 19 về phương pháp toàn phần

Theo ASB, trước đây có 3 phương pháp kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp (dưới đây gọi tắt là thuế TNDN):

Phương pháp thuế thực tế (flow-through accounting), trong đó kế toán sẽ ghi nhận thuế TNDN đúng như số liệu theo quy định của thuế.

Phương pháp toàn phần (full provision), trong đó tất cả các chênh lệch thời điểm giữa kế toán và thuế đều phải ghi nhận thuế hoãn lại.

Phương pháp từng phần (partial provision) cho rằng các chênh lệch thời điểm nếu sẽ tiếp tục tồn tại trong tương lai sẽ được xem là chênh lệch vĩnh viễn.
FRS 19 cũng bàn luận về các ý kiến khác nhau về mỗi phương pháp, để từ đó đề xuất ra quan điểm của mình.

Đối với phương pháp thuế thực tế, các lập luận bảo vệ cho rằng cơ quan thuế xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp từng thời kỳ. Do đó, những đánh giá về nghĩa vụ thuế trong tương lai sẽ phụ thuộc vào nhiều sự kiện tương lai, không thể trình bày như những nghĩa vụ trên báo cáo tài chính. Mặt khác, đây là cách minh bạch và rõ ràng nhất để xác định nghĩa vụ thuế trên báo cáo tài chính.

Tuy nhiên, ASB cho rằng phương pháp này không phù hợp với xu hướng hội nhập kế toán quốc tế và không được ủng hộ rộng rãi của cộng đồng kế toán Anh. Những người bác bỏ phương pháp này cho rằng các chính sách thuế tương đối ổn định để có thể ước tính đáng tin cậy về những ảnh hưởng về thuế trong tương lai. Mặt khác, nó có thể dẫn đến việc phản ảnh thiếu các nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Vì vậy, ASB quyết định không chọn phương pháp này.

Đối với phương pháp từng phần, các lập luận bảo vệ chấp nhận việc đánh giá các nghĩa vụ thuế tương lai nhưng thay vì xem xét riêng từng giao dịch cụ thể, phương pháp này tập trung vào xác định ảnh hưởng tổng thể đến báo cáo tài chính. Những chênh lệch thời điểm giữa kế toán và thuế sẽ tiếp diễn lâu dài trong tương lai sẽ được xem là một chênh lệch vĩnh viễn. Thí dụ, một tài sản cố định có chênh lệch thời điểm về khấu hao tại thời điểm hiện tại khi thanh lý và thay thế bằng một tài sản cố định khác sẽ lại tiếp tục một chu kỳ chênh lệch mới. Do đó, không ghi nhận những chênh lệch thời điểm này sẽ phản ảnh đúng hơn nghĩa vụ thuế phải nộp.

ASB cho rằng việc áp dụng phương pháp này trong thực tế mang tính chủ quan cao vì mỗi doanh nghiệp có đánh giá khác nhau về chênh lệch thời điểm nào sẽ còn tiếp diễn. Mặt khác việc dựa vào xét đoán về một sự kiện trong tương lai để đánh giá một nghĩa vụ hiện tại là không hợp lý. Cũng trong bối cảnh hội nhập kế toán quốc tế, ASB đã loại bỏ phương pháp này.

Với những lập luận trên, ASB đã lựa chọn phương pháp toàn phần để phản ảnh thuế thu nhập doanh nghiệp.
Lập luận của ASB trong FRS 19 về chênh lệch tạm thời

Tuy nhiên, ASB không chấp nhận phương pháp liability của IASB mà đưa ra phương pháp “liability điều chỉnh” (incremental liability method). Lý do chính liên quan đến khái niệm chênh lệch tạm thời.

Theo ASB, có những trường hợp chênh lệch vĩnh viễn dẫn đến chênh lệch tạm thời. Thí dụ, trường hợp tài sản có giá trị ghi nhận ban đầu khác với cơ sở tính thuế. Cũng theo ASB, lập luận cho rằng nghĩa vụ thuế phát sinh ngay khi ghi nhận tài sản là không hợp lý. Và IASB phải giải quyết bằng cách loại trừ trường hợp này không ghi nhận thuế hoãn lại. Điều này làm cho khái niệm chênh lệch tạm thời khó giải thích về mặt lý thuyết. Mặt khác, theo ASB việc xác định và tính toán chênh lệch tạm thời cũng phức tạp hơn chênh lệch thời điểm.

Với lập luận trên, ASB không chấp nhận khái niệm chênh lệch tạm thời và đưa ra phương pháp liability điều chỉnh. Nội dung cơ bản của phương pháp này là vẫn sử dụng chênh lệch thời điểm nhưng dựa trên các đánh giá nghiêm ngặt về điều kiện ghi nhận tài sản và nợ phải trả để xác định nghĩa vụ thuế TNDN và chi phí thuế TNDN.

Thí dụ, khi doanh nghiệp ghi nhận lãi dồn tích của một khoản tiền gửi ngân hàng, doanh nghiệp chưa phải chịu thuế cho đến khi nhận được các chứng từ đầy đủ về khoản lãi này đã phát sinh. Nghĩa vụ thuế trong trường hợp này đã gần như chắc chắn nên một khoản thuế hoãn lại sẽ được ghi nhận.

Ngược lại, khi doanh nghiệp đánh giá lại tài sản cố định theo giá thay thế (chuẩn mực kế toán Anh cho phép điều này), các nghĩa vụ thuế chưa xác định cho đến khi doanh nghiệp bán tài sản này. Do đó, ASB sẽ không cho phép ghi nhận thuế hoãn lại trong việc đánh giá lại tài sản trừ khi doanh nghiệp đã có một cam kết bán tài sản cố định này.

ĐẶNG THỊ KIM THÚY

Wednesday, July 13, 2011

Chuyên đề phân tích báo cáo tài chính



Phân tích báo cáo tài chính là một vấn đề giao nhau giữa nhiều lĩnh vực: kế toán, tài chính, đầu tư… Nó có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Các nhà đầu tư và chủ nợ quan tâm nhiều đến bí mật đằng sau những con số của báo cáo tài chính. Trong khi các nhà quản lý doanh nghiệp lại muốn đánh giá tình hình của doanh nghiệp mình một cách tổng thể qua việc phân tích báo cáo tài chính của chính doanh nghiệp mình. Mặc dù có cùng một số mục đích với các đối tượng trên, kiểm toán viên lại tiếp cận theo một hướng khác: đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính để phục vụ cho việc kế hoạch kiểm toán.
Trong cùng một bối cảnh, phân tích báo cáo tài chính còn có những mức độ, hay chính xác hơn, có độ sâu khác nhau. Ở góc độ một nhà đầu tư đơn thuần hay một giám đốc điều hành, phân tích báo cáo tài chính thường dừng ở mức độ đọc hiểu. Tuy nhiên, các nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp thì phải đào sâu hơn nhiều. Lúc này, phân tích báo cáo tài chính cần phải đặt trong bối cảnh chung của ngành (phân tích chiến lược), đánh giá ảnh hưởng của việc lựa chọn chính sách kế toán (phân tích kế toán), xem xét các tỷ số tài chính và dòng tiền của doanh nghiệp (phân tích tài chính) và xa hơn nữa sử dụng các thông tin cho việc định giá doanh nghiệp.
Phân tích báo cáo tài chính không chỉ phục vụ cho những người làm công tác thực tế. Nhiều nghiên cứu được tiến hành trong lĩnh vực kế toán cũng sử dụng các kiến thức liên quan đến phân tích báo cáo tài chính. Các nghiên cứu có thể được tiến hành trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của thông tin trên báo cáo tài chính đến giá của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc tác động của các nhân tố đến sự lựa chọn chính sách kế toán. Một hướng nghiên cứu khác là tìm hiểu các tỷ số nào thường được các nhà đầu tư, các chủ nợ hoặc kiểm toán viên sử dụng trong phân tích, khả năng của chúng trong việc phát hiện sai lệch lợi nhuận hay khả năng phá sản của doanh nghiệp…
Với một phạm vi ứng dụng rộng và nhiều mức độ như trên, các vấn đề về phân tích báo cáo tài chính được đề cập đến trong nhiều môn học trong các chương trình đào tạo về kế toán. Ở một số môn học nhập môn về kế toán, phân tích được giới thiệu dưới góc độ đơn giản để hiểu báo cáo tài chính được sử dụng như thế nào. Khi đi sâu vào kế toán tài chính, phân tích sẽ giúp học viên hiểu được các nguyên tắc kế toán ảnh hưởng gì đến các chỉ tiêu của báo cáo tài chính. Ở một mức độ nâng cao, học viên có thể tiếp cận một môn học riêng về phân tích báo cáo tài chính, trong đó kiến thức về kế toán và tài chính sẽ được sử dụng đồng thời với nhiều kiến thức khác để có thể hiểu được một cách sâu sắc hơn các vấn đề của báo cáo tài chính.
Chuyên đề phân tích báo cáo tài chính của Chương trình sinh hoạt chuyên môn sẽ trình bày vấn đề phân tích báo cáo tài chính ở mức độ rộng nhằm cung cấp kiến thức nền tảng về lĩnh vực này, tạo chiều sâu trong bài giảng của các thầy cô về bất kỳ lĩnh vực nào của kế toán. Một mục tiêu nữa của chuyên đề là cung cấp một khung các khái niệm trong lĩnh vực này để khi nghiên cứu sâu hơn, các thầy cô có sẵn một bản đồ để định hướng.
Các tài liệu tham khảo và slide sẽ được đưa lên blog vào đầu tuần sau.

Saturday, June 18, 2011

Chi phí trả trước và báo cáo lưu chuyển tiền tệ



Chi phí trả trước là một khoản phi tiền tệ hay là một khoản vốn lưu động
Trong buổi sinh hoạt vừa qua có một số trao đổi thú vị liên quan đến cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (CF). Việc trao đổi xoay quanh vấn đề tại sao chi phí trả trước, dưới góc độ nào đó, gần giống như chi phí khấu hao, lại không điều chỉnh như một khoản mục phi tiền tệ như khấu hao mà lại điều chỉnh trong phần sự thay đổi của vốn lưu động. Bài viết dưới đây trình bày cách giải quyết tiếp cận theo hướng tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính. Đây chỉ là một ý kiến cá nhân nhằm tạo cơ hội cho chúng ta có dịp nhìn sâu hơn vào CF cũng như bản chất cung cấp thông tin của kế toán.
Các quy định
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” (VAS 24)
Các chỉ tiêu về luồng tiền được xác định trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh cho các khoản:
- Các khoản doanh thu, chi phí không phải bằng tiền như khấu hao TSCĐ, dự phòng...
- Lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện;
- Tiền đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Các thay đổi trong kỳ của hàng tồn kho, các khoản phải thu và các khoản phải trả từ hoạt động kinh doanh (trừ thuế thu nhập và các khoản phải nộp khác sau thuế thu nhập doanh nghiệp);
- Lãi lỗ từ hoạt động đầu tư.
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 7 “Statement of Cadh Flows” (IAS7)
Under the indirect method, the net cash flow from operating activities is determined by adjusting profit or loss for the effects of:
(a) changes during the period in inventories and operating receivables and payables;
(b) non-cash items such as depreciation, provisions, deferred taxes, unrealised foreign currency gains and losses, and undistributed profits of associates; and
(c) all other items for which the cash effects are investing or financing cash flows.
Đặt vấn đề
Như vậy, trong khi VAS 24 gọi đơn giản là các khoản doanh thu, chi phí không phải bằng tiền thì khái niệm các khoản phi tiền tệ (non-cash item) đã được đề cập bởi IAS 7. Tuy nhiên, cả hai đều không đưa ra định nghĩa mà chỉ cho thí dụ.
Câu hỏi đặt ra là liệu các khoản chi phí trả trước có phải là một chi phí phi tiền tệ hay không? Phải chăng các khoản này chỉ bao gồm các khoản doanh thu, chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư hay tài chính? Các ý kiến trong hội thảo như sau:
1. Một số ý kiến cho rằng nên điều chỉnh chi phí trả trước như một khoản chi phí phi tiền tệ. Lúc đó, trong phần điều chỉnh để ra được khoản lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh thì sẽ trừ cho số thực chi. Cách xử lý này tương tự như chi phí lãi vay.
2. Một số ý kiến khác cho rằng, chi phí trả trước cần điều chỉnh bên dưới vì nó có thể biến động hai chiều tương tự như các khoản vốn lưu động khác (hàng tồn kho, nợ phải thu…)
3. Một số ý kiến cho rằng cần tiếp cận trên mục đích của thông tin trên CF. Theo đó, việc tính chi phí trả trước ở trên (điều chỉnh vào các khoản phi tiền tệ) hay ở dưới (điều chỉnh vào những thay đổi về vốn lưu động) là tùy theo mục đích cung cấp thông tin trên CF.
Đề xuất
Bài viết này đề nghị xem xét vấn đề dưới góc độ mục đích cung cấp thông tin trên CF. Cả hai cách xử lý chi phí trả trước đều không ảnh hưởng đến lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh mà chỉ ảnh hưởng đến chỉ tiêu “Lợi nhuận trước những thay đổi về vốn lưu động”. Như vậy, chỉ tiêu này thực sự có ý nghĩa gì? Lưu ý rằng chỉ tiêu này không được đề cập chính thức trong chuẩn mực nhưng khi trình bày CF (theo phương pháp gián tiếp), nó thường là 1 dòng trung gian, hàm nghĩa dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trước các khoản phải bù đắp (hoặc được thu hồi) từ vốn lưu động của công ty và những khoản thực chi cần khai báo như chi trả lãi vay hay chi nộp thuế. Và do đó, để giải quyết cấn đề, câu hỏi “liệu chi phí trả trước có phải là một khoản phi tiền tệ không?”sẽ được đổi lại rằng, “liệu chi phí trả trước có thuộc về vốn lưu động hay không?”
Vốn lưu động (working capital) là phần chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Nó thường được phân tích thành 2 bộ phận:
- Nhu cầu vốn lưu động (working capital requirement) bao gồm hàng tồn kho, nợ phải thu khách hàng, chi phí trả trước trừ đi phải trả người bán, chi phí phải trả). Dưới góc độ quản trị tài chính, đây là lượng vốn lưu động doanh nghiệp duy trì trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh bình thường. Chỉ tiêu này cho biết việc quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp có tốt hay không.
- Số dư cân bằng thanh khoản (net liquid balance) là là phần chênh lệch giữa các tài sản tài chính ngắn hạn (tiền, đầu tư ngắn hạn…) với các khoản nợ phải trả tài chính ngắn hạn (vay ngắn hạn…).
Trong CF gián tiếp, có thể thấy phần điều chỉnh vốn lưu động chính là thể hiện các thay đổi của nhóm các khoản thuộc về nhu cầu vốn lưu động. Chi phí trả trưóc cũng nằm trong nhóm này nên sẽ là một đối tượng của quản lý vốn lưu động. Nhà quản lý cần phải tính toán để giảm thiểu dòng tiền của mình bị đọng trong các chi phí trả trước. Thí dụ, trong những giao dịch thuê tài sản, dưới góc độ tài chính, người quản lý sẽ xem xét để có thể tìm kiếm được những hợp đồng nào yêu cầu một mức chi phí trả trước thấp hơn.
Việ trình bày sự thay đổi vốn lưu động trên CF không chỉ nhằm mục đích điều chỉnh từ lợi nhuận ra lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, mà quan trọng hơn là giải thích tại sao lại phát sinh chênh lệch giữa lợi nhuận và tiền, qua đó giúp người đọc đánh giá về khả năng điều hành của người quản lý doanh nghiệp. Việc quản lý vồn lưu động tốt sẽ giúp sự chuyển hóa từ lợi nhuận thành tiền được tối ưu.
Dưới góc độ, có thể giải thích chi phí trả trước ngắn hạn với tư cách một khoản nằm trong nhu cầu vốn lưu động, sẽ được điều chỉnh trong phần thay đổi vốn lưu động hơn là trình bày như một khoản chi phí phi tiền tệ.
Cũng trong lập luận đó, chi phí trả trước dài hạn – một khoản chi phí được vốn hóa và phân bổ trong nhiều năm, không nằm trong chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp mà thuộc về phạm vi quyết định dài hạn – cần được phản ảnh bên hoạt động đầu tư và khoản phân bổ vào chi phí hàng năm của nó sẽ được điều chỉnh trên CF như một khoản chi phí phi tiền tệ.

Saturday, May 21, 2011

Một tranh luận về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp



Đặt vấn đề
Doanh nghiệp mua 1 thiết bị đã sử dụng với giá 1.000 triệu đồng; tuy nhiên các giấy tờ cho thấy cơ quan thuế chỉ chấp nhận giá trị 600 triệu đồng. Giao dịch này có tạo thành một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại tại thời điểm mua hay không?
Tiếp cận theo deferral method
Đây là một khoản chênh lệch vĩnh viễn do doanh nghiệp chỉ được đưa vào chi phí được khấu trừ thuế là 600 triệu, bất chấp giá gốc trên sổ sách là 1.000 triệu đồng. Giả sử thiết bị được khấu hao đường thẳng trong 10 năm, mỗi năm giá trị khấu hao theo kế toán là 100 triệu đồng nhưng chỉ được đưa vào chi phí khấu trừ thuế là 60 triệu đồng.
Tiếp cận theo liability method
Đây là một khoản chênh lệch tạm thời, vì giá trị sổ sách kế toán và cơ sở tính thuế khác nhau. Ngay tại thời điểm mua, khoản chênh lệch tạm thời đã phát sinh là 400 triệu. Nếu doanh nghiệp bán tài sản ngay tại thời điểm này với giá 1.000 triệu đồng, doanh nghiệp sẽ phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên một khoản thu nhập tính thuế là 400 triệu đồng. Cũng giả sử doanh nghiệp khấu hao đường thẳng trong 10 năm. Một năm sau ngày mua, giá trị sổ sách kế toán là 900 triệu đồng và cơ sở tình thuế là 540 triệu đồng. Chênh lệch tạm thời bây giờ còn lại là 360 triệu đồng, vì 40 triệu đồng đã bị loại trừ khỏi chi phí khấu trừ thuế ngay năm đầu tiên sử dụng.
Về mặt lý thuyết kế toán về thuế thu nhập doanh nghiệp, chênh lệch tạm thời trên tạo ra một khoản thuế hoãn lại phải trả tương ứng với số thuế mà doanh nghiệp không được khấu trừ trong tương lai ngay khi mua tài sản. Giả sử doanh nghiệp được bán đi một năm sau ngày mua thiết bị, người mua doanh nghiệp sẽ phải biết rằng thiết bị mà doanh nghiệp nắm giữ có giá trị sổ sách là 900 triệu đồng nhưng chỉ được khấu trừ thuế trong tương lai là 540 triệu đồng; thể hiện qua khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả trên báo cáo tài chính là 360 triệu đồng.
Quy định của chuẩn mực kế toán
Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam không cho phép ghi nhận thuế hoãn lại phải trả trong trường hợp này. Theo đoạn 09 của VAS 17:
Thuế thu nhập hoãn lại phải trả phải được ghi nhận cho tất cả các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế, trừ khi nợ thuế thu nhập hoãn lại phải trả phát sinh từ ghi nhận ban đầu của một tài sản hay nợ phải trả của một giao dịch mà giao dịch này không có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán hoặc lợi nhuận tính thuế thu nhập (hoặc lỗ tính thuế) tại thời điểm phát sinh giao dịch,.
VAS 17 dựa trên IAS 12 về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Đoạn 15 IAS12 (2009) quy định:
A deferred tax liability shall be recognised for all taxable temporary differences, except to the extent that the deferred tax liability arises from:
(a) the initial recognition of goodwill; or
(b) the initial recognition of an asset or liability in a transaction which:
(i) is not a business combination; and
(ii) at the time of the transaction, affects neither accounting profit nor taxable profit (tax loss)
Đoạn 22(c), giải thích:
“…if the transaction is not a business combination, and affects neither accounting profit nor taxable profit, an entity would, in the absence of the exemption provided by paragraphs 15 and 24, recognise the resulting deferred tax liability or asset and adjust the carrying amount of the asset or liability by the same amount. Such adjustments would make the financial statements less transparent. Therefore, this Standard does not permit an entity to recognise the resulting deferred tax liability or asset, either on initial recognition or subsequently (see example below). Furthermore, an entity does not recognise subsequent changes in the unrecognised deferred tax liability or asset as the asset is depreciated”.
Sau đó, IAS 12 đưa ra thí dụ:
An entity intends to use an asset which cost 1,000 throughout its useful life of five years and then dispose of it for a residual value of nil. The tax rate is 40%. Depreciation of the asset is not deductible for tax purposes. On disposal, any capital gain would not be taxable and any capital loss would not be deductible.
As it recovers the carrying amount of the asset, the entity will earn taxable income of 1,000 and pay tax of 400. The entity does not recognise the resulting deferred tax liability of 400 because it results from the initial recognition of the asset.
In the following year, the carrying amount of the asset is 800. In earning taxable income of 800, the entity will pay tax of 320. The entity does not recognise the deferred tax liability of 320 because it results from the initial recognition of the asset.
Như vậy, IAS 12 lo rằng việc việc ghi nhận một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả có thể dẫn đến việc ghi tăng giá trị tài sản lên một khoản tương ứng làm cho báo cáo tài chính mất đi tính minh bạch. Do đó, IAS 12 cấm ghi khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại trong trường hợp này.
Sự lo lắng của IASB xuất phát từ việc tại một số quốc gia, doanh nghiệp có thể nhận được những tài sản tài trợ mà không phải chịu thuế hoặc có các tài sản mà cơ quan thuế không chấp nhận giá trị, thí dụ các tài sản vô hình. Trong trường hợp này, mặc dù tài sản có giá trị sổ sách kế toán nhưng cơ sở tính thuế của nó bằng không. Vì vậy, nếu bắt doanh nghiệp ghi một khoản thuế hoãn lại phải trả, doanh nghiệp sẽ đánh giá tài sản tăng lên để bù lại phần này, làm cho cả tài sản và nợ phải trả cùng tăng lên một giá trị khống. Thí dụ, doanh nghiệp nhận được một thiết bị tài trợ không phải chịu thuế là 15 tỷ. Nếu doanh nghiệp phải ghi nhận một khoản thuế hoãn lại phải trả là 3,75 tỷ (thuế xuất 25%), doanh nghiệp sẽ đánh giá tài sản là 20 tỷ để khi bù trừ với thuế hoãn lại phải trả (bây giờ là 20 tỷ x 25% = 5 tỷ), thì giá trị tài sản thuần vẫn là 15 tỷ.
Việc cấm không cho ghi nhận thuế hoãn lại của IASB là một cách tiếp cận theo kiểu “Không quản lý được thì cấm”. Barry J. Epstein và Eva K. Jermakowicz giải thích về quan điểm của IASB trong cuốn sách “Wiley 2010 Interpretation and Application of International Financial Reporting Standards” như sau:
In some tax jurisdictions, the costs of certain assets are never deductible in computing taxable profit. Depending on jurisdiction, buildings, intangibles, or other assets may not be subject to depreciation or amortization. Thus, the asset in question has a differing accounting basis than tax basis, and this defines a temporary difference under revised IAS 12. Similarly, certain liabilities may not be recognized for tax purposes. While IAS 12 agrees that these represent temporary differences and that, under the principles of interperiod tax allocation using the liability method, this should result in the recognition of deferred tax liabilities or assets, the decision was made to not permit this. The reason given is that the new result would be to “gross up” the recorded amount of the asset or liability to offset the recorded deferred tax liability or benefit, and this would make the financial statements “less transparent.” It could also be argued that when an asset has, as one of its attributes, nondeductibility for tax purposes, the price paid for this asset would have been affected accordingly, so that any such “gross-up” would cause the asset to be reported at an amount in excess of fair value.
Thừa nhận của IASB và hướng sửa đổi
Khi dự án Hội tụ kế toán giữa IASB và FASB được triển khai, trong đó có một dự án con liên quan đến thuế thu nhập hoãn lại. Trong quá trình thảo luận, từ năm 2003, IASB đã cam kết sẽ chỉnh sửa sự loại trừ này khi ban hành lại IAS 12. Và trong phần giải thích bản dự thảo mới được công bố năm 2009, IASB viết:
IAS 12 prohibits recognition of a deferred tax liability or deferred tax asset for temporary differences that arise from the initial recognition of an asset or liability in a transaction that:
(a) is not a business combination, and
(b) at the time of the transaction affects neither accounting nor taxable profit.
IAS 12 also prohibits an entity from recognising subsequent changes in such an unrecognised deferred tax asset or liability. SFAS 109 does not include an exception from the temporary difference approach for temporary differences that arise on the initial recognition of an asset or liability.
The Board proposes to eliminate the exception that IAS 12 makes and so create a more principled standard and more consistent treatment of deferred tax. The resulting IFRS should also be easier to understand and apply. Many questions arise in practice on how the initial recognition exemption should be applied. (đoạn BC 25 và 26, phần in đậm do người viết thực hiện để nhấn mạnh)
Như vậy, IASB thừa nhận cần phải loại trừ yêu cầu trên để bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực được thống nhất. Còn việc xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh cần đưa ra các quy định phù hợp thay vì ngăn cấm hoàn toàn việc ghi nhận thuế hoãn lại trong trường hợp này.
Những cách thức cụ thể do IASB đề xuất, so sánh với cách làm của các quốc gia khác sẽ được đề cập trong một bài phân tích khác. Dừng lại ở đây, chúng ta có một thí dụ về vai trò của khuôn mẫu lý thuyết kế toán. Nó xác lập những nguyên tắc cơ bản mà không một chuẩn mực cụ thể nào có quyền đi ngược lại. Vì vậy, có người ví nó như một thứ “hiến pháp” cho các chuẩn mực kế toán.

Popular Posts