We examine investment behavior when firms face costs in the access to external funds. We find that despite the existence of liquidity constraints ...CisriGroup.Com
Showing posts with label A1-Thuế. Show all posts
Showing posts with label A1-Thuế. Show all posts
Wednesday, June 12, 2013
Cập nhật thuế 2013
Ngày 14/6/2013, Câu lạc bộ Giảng dạy và Nghiên cứu Kế toán - Kiểm toán sinh hoạt với chủ đề "Cập nhật thuế 2013" do Luật sư Trần Xoa trình bày với các nội dung sau:
1/ Cập nhật văn bản thuế 6 tháng đầu năm 2013
2/ Giới thiệu và phân tích những điểm mới trong quy định về quản lý và khấu hao TSCĐ
3/ Giới thiệu và phân tích một số điểm mới về hóa đơn bán hàng theo Thông tư 64/2013/TT-BTC
Thursday, May 23, 2013
Không chỉ có Apple

Không chỉ có Apple là đối tượng điều tra của Quốc hội Hoa Kỳ. Tháng 9/2012, hai công ty khác là Microsoft và HP cũng ra điều trần về vấn đề thuế.
Trong cuộc điều trần này, ngoài PSI, các chuyên gia, đại diện cơ quan thuế liên bang IRS và đại diện hai công ty trên, còn có các nhân vật đến từ FASB và Ersnt & Young.
Theo dõi video và download các tài liệu liên quan tại:
Wednesday, May 22, 2013
Điều tra hành vi tránh thuế của Apple
Quốc hội Hoa Kỳ đang điều tra về việc các công ty Hoa Kỳ tránh thuế thông qua các thủ thuật hợp pháp. Ngày 21/5/2013 vừa qua, công ty Apple phải điều trần về vấn đề này trước Quốc hội Hoa Kỳ.
Các bên tham gia buổi điều trần bao gồm:
Về phía Tiểu ban Thường trực Điều tra (Permanent Subcommittee on Investigations – viết tắt PSI) có hai thượng nghị sĩ là Carl Levin D và John Mccain R.
Về phía các nhân chứng:
- Đại diện giới nghiên cứu là hai giáo sư J. Richard Harvey, Villanova University School of Law và Stephen E. Shay, Harvard Law School.
- Đại diện cho Apple là Timothy D. Cook, Chief Executive Officer, Peter Oppenheimer, Senior Vice President & Chief Financial Officer và Phillip A. Bullock, Head of Tax Operations.
- Đại diện cho các cơ quan nhà nước liên quan là Mark J. Mazur, Assistant Secretary for Tax Policy, U.S. Department of the Treasury và Samuel M. Maruca, Director, Transfer Pricing Operations, Large Business & International (LB&I) Division, Internal Revenue Service.
Các tài liệu có thể cho thấy những thủ thuật của các công ty đa quốc gia trong việc tránh thuế một cách hợp pháp. Điều thú vị là người ta không buộc tội các công ty là phạm pháp mà chỉ nhận định về những yếu kém của pháp luật và trao đổi về khía cạnh đạo lý của vấn đề. Các thầy cô nghiên cứu về kiểm toán cũng có thể tham khảo các kỹ thuật điều tra và trình bày một báo cáo.
Để xem các tài liệu:
- Các báo cáo của thành viên PSI và các bản điều trần của các nhân chứng, xin nhấp chuột vào tên của mỗi người.
- Báo cáo của PSI về Apple case, nhấp chuột vào đây.
- Các tư liệu điều tra minh chứng (đã được xóa đi một số để bảo mật cho Apple), nhấp chuột vào đây.
- Xem video và đọc toàn bộ thông tin tại website của PSI tại: http://www.hsgac.senate.gov/subcommittees/investigations/hearings/offshore-profit-shifting-and-the-us-tax-code_-part-2
- Đọc bài báo (tiếng Anh) tóm tắt về vụ việc tại: http://qz.com/86740
Sunday, May 19, 2013
Kế toán vôn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp không phải công ty cổ phần
Về lý thuyết, hai nhóm DN có loại hình sở hữu khác nhau sẽ dẫn đến những ảnh hưởng về kế toán và thuế:
- Các doanh nghiệp mà các chủ sở hữu chịu trách nhiệm hữu hạn (trong phạm vi vốn góp) về nghĩa vụ của doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty TNHH.
- Các doanh nghiệp mà chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ của doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh.
Ảnh hưởng về kế toán
- Đối với công ty TNHH, vì có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp, nên việc phản ảnh kế toán tương tự như công ty cổ phần (nguyên tắc kế toán = đơn vị kinh tế).
- Đối với công ty hợp danh và DN tư nhân, sự tách biệt trên không rõ ràng nên kế toán sẽ phải có những cách xử lý khác biệt trong các giao dịch như góp vốn, rút vốn.
Ảnh hưởng về thuế
- Tương tự như kế toán, các công ty TNHH vấn đề thuế sẽ tương tự như công ty cổ phần. Các DN này phải chịu thuế TNDN và khi chia lời, các chủ sở hữu sẽ chịu thuế TNCN.
- Đối với DN tư nhân và công ty hợp danh, cơ quan thuế nhiều nước xem các chủ sở hữu là đối tượng nộp thuế hơn là DN. Và như vậy, họ sẽ khai thuế TNCN thay vì thuế TNDN.
Câu hỏi là trong bối cảnh Việt Nam, luật pháp và các quy định sẽ ảnh hưởng thế nào? Buổi sinh hoạt tới của Câu lạc bộ sẽ trao đổi về vấn đề này.
Tuesday, April 3, 2012
Xử lý chênh lệch tỷ giá - Phương pháp nào có lợi cho doanh nghiệp??
Một bạn đọc (trang nguyen) góp ý:
" TT 201 hay VAS 10 đều có hiệu lực như nhau, nên các công ty có thể xử lý chênh lệch tỷ giá theo văn bản nào cũng đc. Nhưng TT 201/2009/TT-BTC thì Thuế áp dụng nên hầu hết các công ty áp dụng theo TT 201 cho tiện việc Thuế dễ kiểm tra,khỏi phải mất công điều chỉnh."
Đúng là sự khác biệt giữa VAS 10 và TT 201 có nguồn gốc sâu xa từ cách xử lý của thuế đối với chênh lệch tỷ giá. Những lập luận bảo vệ cho TT 201 dựa trên sự thuận lợi trong giải quyết quan hê giữa kế toán và thuế của doanh nghiệp. Cách xử lý TT 201 phù hợp với quy định của thuế trong xử lý chênh lệch tỷ giá, do đó doanh nghiệp áp dụng theo TT 201 sẽ không cần phải thực hiện việc điều chỉnh sự khác biệt giữa kế toán và thuế trên tờ khai quyết toán thuế, cũng như xử lý những vấn đề liên quan đến thuế hoãn lại.
Tuy nhiên, về mặt kế toán, đây lại là một vấn đề khác. Có thể nói TT 201 mâu thuẫn với Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 "Chuẩn mực chung" trong các định nghĩa về các yếu tố của báo cáo tài chính (tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí...). Khi khoản ngoại tệ được đánh giá lại tăng lên (hoặc giảm xuống), làm tăng (hoặc giảm) vốn chủ sở hữu mà không phải là góp vốn (hoặc phân phối vốn) nên sẽ thỏa mãn điều kiện của thu nhập (hoặc chi phí).Việc treo lại chênh lệch tỷ giá của các khoản ngắn hạn rồi hoàn nhập vào đầu kỳ sau không dựa trên một nền tảng lý luận nào về kế toán. Bên cạnh đó, việc hoãn ghi nhận các khoản lỗ do đánh giá lại các khoản nợ dài hạn và phân bổ sau đó không phù hợp với khái niệm chi phí.
Mặt khác, việc cho phép doanh nghiệp lựa chọn giữa các chính sách kế toán quá khác biệt, sẽ làm ảnh hưởng rất xấu đến khả năng so sánh được của báo cáo tài chính, có thể tác động nghiêm trọng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.
Do đó, TT201 về phương diện nào đó làm cho hệ thống kế toán Việt Nam trở nên lủng củng do chứa đựng những mâu thuẫn nội tại bên trong. Việc thuyết minh bổ sung thực ra chỉ là một giải pháp chắp vá.
Saturday, September 24, 2011
Các bên liên quan và chống chuyển giá
Khái niệm các bên liên quan của VAS 26 khá gần gũi với khái niệm các bên liên kết theo Thông tư 66/2010/TT-BTC về "Hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết", thay thế cho Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính. Đây là một văn bản quan trọng liên quan đến việc áp dụng các giải pháp chống chuyển giá trong lĩnh vực thuế.
Theo định nghĩa của thông tư này:
“Các bên có quan hệ liên kết” (sau đây được gọi là "các bên liên kết") là cụm từ được sử dụng để chỉ các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
a. Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia;
b. Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác;
c. Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác. Thông thường, hai doanh nghiệp trong một kỳ tính thuế có quan hệ giao dịch kinh doanh thuộc một trong các trường hợp sau thì xác định là các bên liên kết:
- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
- Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Cả hai doanh nghiệp đều nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của một bên thứ ba;
d. Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia, nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
e. Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;
f. Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;
g. Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;
h. Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ sau: vợ và chồng; bố, mẹ và con (không phân biệt con đẻ, con nuôi hoặc con dâu, con rể); anh, chị, em có cùng cha, mẹ (không phân biệt cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi); ông nội, bà nội và cháu nội; ông ngoại, bà ngoại và cháu ngoại; cô, chú, bác, cậu, dì ruột và cháu ruột;
i. Hai doanh nghiệp có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;
j. Một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ của một doanh nghiệp khác với điều kiện chi phí phải trả cho việc sử dụng tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ đó chiếm trên 50% giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm;
k. Một doanh nghiệp cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổng giá trị nguyên vật liệu, vật tư hoặc sản phẩm đầu vào (không bao gồm chi phí khấu hao đối với tài sản cố định) để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đầu ra của một doanh nghiệp khác;
l. Một doanh nghiệp kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sản lượng sản phẩm tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một doanh nghiệp khác;
m. Hai doanh nghiệp có thỏa thuận hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng.
Toàn văn Thông tư 66/2010/TT-BTC
Link 1:
Link 2:
Tuesday, June 7, 2011
Chuyên đề về sự khác biệt giữa kế toán và thuế

Trên thế giới, nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam trước đây) coi số liệu kế toán là một nguồn thông tin cho cơ quan thuế và do đó, số liệu kế toán phải phản ảnh phù hợp với các quy định về thuế. Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia khác, kế toán tập trung vào việc trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp; việccung cấp thông tin cho cơ quan thuế sẽ được thực hiện riêng.
Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây đã chuyển sang hướng thứ hai. Điều này mang lại cho kế toán một sức sống mới trong việc áp dụng linh hoạt hơn các nguyên tắc kế toán. Mặc dù vậy, một vấn đề quan trọng đặt ra cho người kế toán là phải hiểu rõ về các quy định của thuế cũng như sự khác biệt giữa cách xử lý của kế toán với cơ quan thuế. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chuyển sang hệ thống kê khai thuế theo phương thức tự khai tự nộp từ năm 2007. Hệ quả tất yếu là doanh nghiệp ngày nay phải am hiểu về thuế để chủ động kê khai những khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế. Vì vậy, chương trình đào taọ về kế toán càng ngày càng coi việc đào tạo về thuế cho sinh viên kế toán là một chủ đề quan trọng. Ngay về nội dung, cách tiếp cận các vấn đề về thuế cũng theo hướng doanh nghiệp, thay vì theo hướng đào tạo về chính sách thuế của Nhà nước.
Với sự thay đổi đó, các bài giảng môn kế toán tài chính cần bổ sung nội dung đối chiếu sự khác biệt kế toán và thuế trong từng vấn đề giảng dạy. Thí dụ, khi học về tài sản cố định, người sinh viên cần hiểu mặc dù việc khấu hao là một ước tính kế toán theo thực tế của doanh nghiệp; họ cũng cần tham chiếu đến các quy định về thuế liên quan để xử lý các chênh lệch khi khai thuế nếu có sự khác biệt.
Một thách thức lớn cho giảng viên kế toán là các quy định về thuế luôn thay đổi. Đây là một hiện thực khách quan vì các chính sách quản lý thuế của Nhà nước phải thay đổi kịp thời với thực tiễn nền kinh tế và hành vi của người nộp thuế. Vì vậy, các chương trình cập nhật thuế định kỳ là hết sức cần thiết cho giảng viên kế toán.
Kỳ này, chuyên đề “Sự khác biệt kế toán và thuế” sẽ được trình bày bao gồm những nội dung cơ bản và cập nhật với hai buổi, giải quyết hai vấn đề chung là doanh thu và chi phí. Ngoài thời gian trình bày, một phần thời gian sẽ dành để trả lời thắc mắc. Luật sư Trần Xoa, diễn giả, là một chuyên gia trong lĩnh vực thuế và là nhà tư vấn thuế cho nhiều công ty. Với kiến thức sâu rộng và thực tiễn nghề nghiệp phong phú, ông sẽ có thể giải đáp nhiều thắc mắc của các thầy cô.
Tài liệu đã được gửi qua email cho các thầy cô đăng ký tham gia. Các thầy cô cố gắng dành thời gian chuẩn bị trước, nhất là đọc văn bản về thuế thu nhập doanh nghiệp để có thể trao đổi được nhiều thông tin hữu ích nhất cho bài giảng của mình.
Một số chủ đề chuyên sâu hơn về thuế sẽ được tiếp tục cập nhật trong chương trình sinh hoạt chuyên môn những kỳ tới.
Monday, May 23, 2011
FRS19 - Một tài liệu thú vị về thuế hoãn lại

Người Anh thường có cách tiếp cận riêng trong nhiều vấn đề, không loại trừ kế toán. Xin giới thiệu với các thầy cô chuẩn mực kế toán về thuế thu nhập doanh nghiệp của Anh. Trong tài liệu này có một số thông tin thú vị:
- Lý giải của UK về việc họ thay đổi giữa phương pháp phân bổ từng phần sang phân bổ toàn phần
- So sánh giữa deferral method và liability method, sau đó UK giới thiệu một phương pháp khác; gọi là Incremental liability approach. Trong đó, có 1 ý thú vị là họ phê bình cách mà IAS 12 định nghĩa chênh lệch tạm thời nhưng sau đó lại loại trừ chênh lệch tạm thời phát sinh do ghi nhận ban đầu.
Link 2: http://www.mediafire.com/?26zd3jtx1i14ag5
Saturday, May 21, 2011
Một tranh luận về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Đặt vấn đề
Doanh nghiệp mua 1 thiết bị đã sử dụng với giá 1.000 triệu đồng; tuy nhiên các giấy tờ cho thấy cơ quan thuế chỉ chấp nhận giá trị 600 triệu đồng. Giao dịch này có tạo thành một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại tại thời điểm mua hay không?
Tiếp cận theo deferral method
Đây là một khoản chênh lệch vĩnh viễn do doanh nghiệp chỉ được đưa vào chi phí được khấu trừ thuế là 600 triệu, bất chấp giá gốc trên sổ sách là 1.000 triệu đồng. Giả sử thiết bị được khấu hao đường thẳng trong 10 năm, mỗi năm giá trị khấu hao theo kế toán là 100 triệu đồng nhưng chỉ được đưa vào chi phí khấu trừ thuế là 60 triệu đồng.
Tiếp cận theo liability method
Đây là một khoản chênh lệch tạm thời, vì giá trị sổ sách kế toán và cơ sở tính thuế khác nhau. Ngay tại thời điểm mua, khoản chênh lệch tạm thời đã phát sinh là 400 triệu. Nếu doanh nghiệp bán tài sản ngay tại thời điểm này với giá 1.000 triệu đồng, doanh nghiệp sẽ phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên một khoản thu nhập tính thuế là 400 triệu đồng. Cũng giả sử doanh nghiệp khấu hao đường thẳng trong 10 năm. Một năm sau ngày mua, giá trị sổ sách kế toán là 900 triệu đồng và cơ sở tình thuế là 540 triệu đồng. Chênh lệch tạm thời bây giờ còn lại là 360 triệu đồng, vì 40 triệu đồng đã bị loại trừ khỏi chi phí khấu trừ thuế ngay năm đầu tiên sử dụng.
Về mặt lý thuyết kế toán về thuế thu nhập doanh nghiệp, chênh lệch tạm thời trên tạo ra một khoản thuế hoãn lại phải trả tương ứng với số thuế mà doanh nghiệp không được khấu trừ trong tương lai ngay khi mua tài sản. Giả sử doanh nghiệp được bán đi một năm sau ngày mua thiết bị, người mua doanh nghiệp sẽ phải biết rằng thiết bị mà doanh nghiệp nắm giữ có giá trị sổ sách là 900 triệu đồng nhưng chỉ được khấu trừ thuế trong tương lai là 540 triệu đồng; thể hiện qua khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả trên báo cáo tài chính là 360 triệu đồng.
Quy định của chuẩn mực kế toán
Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam không cho phép ghi nhận thuế hoãn lại phải trả trong trường hợp này. Theo đoạn 09 của VAS 17:
Thuế thu nhập hoãn lại phải trả phải được ghi nhận cho tất cả các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế, trừ khi nợ thuế thu nhập hoãn lại phải trả phát sinh từ ghi nhận ban đầu của một tài sản hay nợ phải trả của một giao dịch mà giao dịch này không có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán hoặc lợi nhuận tính thuế thu nhập (hoặc lỗ tính thuế) tại thời điểm phát sinh giao dịch,.
VAS 17 dựa trên IAS 12 về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Đoạn 15 IAS12 (2009) quy định:
A deferred tax liability shall be recognised for all taxable temporary differences, except to the extent that the deferred tax liability arises from:
(a) the initial recognition of goodwill; or
(b) the initial recognition of an asset or liability in a transaction which:
(i) is not a business combination; and
(ii) at the time of the transaction, affects neither accounting profit nor taxable profit (tax loss)
Đoạn 22(c), giải thích:
“…if the transaction is not a business combination, and affects neither accounting profit nor taxable profit, an entity would, in the absence of the exemption provided by paragraphs 15 and 24, recognise the resulting deferred tax liability or asset and adjust the carrying amount of the asset or liability by the same amount. Such adjustments would make the financial statements less transparent. Therefore, this Standard does not permit an entity to recognise the resulting deferred tax liability or asset, either on initial recognition or subsequently (see example below). Furthermore, an entity does not recognise subsequent changes in the unrecognised deferred tax liability or asset as the asset is depreciated”.
Sau đó, IAS 12 đưa ra thí dụ:
An entity intends to use an asset which cost 1,000 throughout its useful life of five years and then dispose of it for a residual value of nil. The tax rate is 40%. Depreciation of the asset is not deductible for tax purposes. On disposal, any capital gain would not be taxable and any capital loss would not be deductible.
As it recovers the carrying amount of the asset, the entity will earn taxable income of 1,000 and pay tax of 400. The entity does not recognise the resulting deferred tax liability of 400 because it results from the initial recognition of the asset.
In the following year, the carrying amount of the asset is 800. In earning taxable income of 800, the entity will pay tax of 320. The entity does not recognise the deferred tax liability of 320 because it results from the initial recognition of the asset.
Như vậy, IAS 12 lo rằng việc việc ghi nhận một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả có thể dẫn đến việc ghi tăng giá trị tài sản lên một khoản tương ứng làm cho báo cáo tài chính mất đi tính minh bạch. Do đó, IAS 12 cấm ghi khoản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại trong trường hợp này.
Sự lo lắng của IASB xuất phát từ việc tại một số quốc gia, doanh nghiệp có thể nhận được những tài sản tài trợ mà không phải chịu thuế hoặc có các tài sản mà cơ quan thuế không chấp nhận giá trị, thí dụ các tài sản vô hình. Trong trường hợp này, mặc dù tài sản có giá trị sổ sách kế toán nhưng cơ sở tính thuế của nó bằng không. Vì vậy, nếu bắt doanh nghiệp ghi một khoản thuế hoãn lại phải trả, doanh nghiệp sẽ đánh giá tài sản tăng lên để bù lại phần này, làm cho cả tài sản và nợ phải trả cùng tăng lên một giá trị khống. Thí dụ, doanh nghiệp nhận được một thiết bị tài trợ không phải chịu thuế là 15 tỷ. Nếu doanh nghiệp phải ghi nhận một khoản thuế hoãn lại phải trả là 3,75 tỷ (thuế xuất 25%), doanh nghiệp sẽ đánh giá tài sản là 20 tỷ để khi bù trừ với thuế hoãn lại phải trả (bây giờ là 20 tỷ x 25% = 5 tỷ), thì giá trị tài sản thuần vẫn là 15 tỷ.
Việc cấm không cho ghi nhận thuế hoãn lại của IASB là một cách tiếp cận theo kiểu “Không quản lý được thì cấm”. Barry J. Epstein và Eva K. Jermakowicz giải thích về quan điểm của IASB trong cuốn sách “Wiley 2010 Interpretation and Application of International Financial Reporting Standards” như sau:
In some tax jurisdictions, the costs of certain assets are never deductible in computing taxable profit. Depending on jurisdiction, buildings, intangibles, or other assets may not be subject to depreciation or amortization. Thus, the asset in question has a differing accounting basis than tax basis, and this defines a temporary difference under revised IAS 12. Similarly, certain liabilities may not be recognized for tax purposes. While IAS 12 agrees that these represent temporary differences and that, under the principles of interperiod tax allocation using the liability method, this should result in the recognition of deferred tax liabilities or assets, the decision was made to not permit this. The reason given is that the new result would be to “gross up” the recorded amount of the asset or liability to offset the recorded deferred tax liability or benefit, and this would make the financial statements “less transparent.” It could also be argued that when an asset has, as one of its attributes, nondeductibility for tax purposes, the price paid for this asset would have been affected accordingly, so that any such “gross-up” would cause the asset to be reported at an amount in excess of fair value.
Thừa nhận của IASB và hướng sửa đổi
Khi dự án Hội tụ kế toán giữa IASB và FASB được triển khai, trong đó có một dự án con liên quan đến thuế thu nhập hoãn lại. Trong quá trình thảo luận, từ năm 2003, IASB đã cam kết sẽ chỉnh sửa sự loại trừ này khi ban hành lại IAS 12. Và trong phần giải thích bản dự thảo mới được công bố năm 2009, IASB viết:
IAS 12 prohibits recognition of a deferred tax liability or deferred tax asset for temporary differences that arise from the initial recognition of an asset or liability in a transaction that:
(a) is not a business combination, and
(b) at the time of the transaction affects neither accounting nor taxable profit.
IAS 12 also prohibits an entity from recognising subsequent changes in such an unrecognised deferred tax asset or liability. SFAS 109 does not include an exception from the temporary difference approach for temporary differences that arise on the initial recognition of an asset or liability.
The Board proposes to eliminate the exception that IAS 12 makes and so create a more principled standard and more consistent treatment of deferred tax. The resulting IFRS should also be easier to understand and apply. Many questions arise in practice on how the initial recognition exemption should be applied. (đoạn BC 25 và 26, phần in đậm do người viết thực hiện để nhấn mạnh)
Như vậy, IASB thừa nhận cần phải loại trừ yêu cầu trên để bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực được thống nhất. Còn việc xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh cần đưa ra các quy định phù hợp thay vì ngăn cấm hoàn toàn việc ghi nhận thuế hoãn lại trong trường hợp này.
Những cách thức cụ thể do IASB đề xuất, so sánh với cách làm của các quốc gia khác sẽ được đề cập trong một bài phân tích khác. Dừng lại ở đây, chúng ta có một thí dụ về vai trò của khuôn mẫu lý thuyết kế toán. Nó xác lập những nguyên tắc cơ bản mà không một chuẩn mực cụ thể nào có quyền đi ngược lại. Vì vậy, có người ví nó như một thứ “hiến pháp” cho các chuẩn mực kế toán.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Popular Posts
-
Sau khi một trở ngại từ các thảm họa thiên nhiên và hạt nhân năm 2011, ngành du lịch đã hồi phục tại Tokyo. Các văn phòng du lịch quốc gia N...
-
Xin gửi các bạn đường dẫn để download slide chuyên đề 2 Link 1: http://hotfile.com/dl/ 117587465/48e66be/ Khuonmaulythuyetketoan.rar. html L...
-
Đây là một bài tập của chương trình cao học môn Lý thuyết kế toán nhằm đánh giá khả năng vận dụng các khái niệm trong khuôn mẫu lý thuyết kế...
-
Một bạn đọc (trang nguyen) góp ý: " TT 201 hay VAS 10 đều có hiệu lực như nhau, nên các công ty có thể xử lý chênh lệch tỷ giá theo vă...
-
Trong buổi sinh hoạt ngày 25/5/2012, chủ đề sẽ được thảo luận là phương pháp giảng dạy trong kế toán và đặc biệt giới thiệu thêm về phương p...
-
Mục tiêu chuyên đề Trao đổi và thảo luận về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, một báo cáo được coi là cung cấp nhiều thông tin hữu ích nhưng còn n...
-
Gởi các thầy cô Dự thảo Thông tư Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp. Thông tư dài 46 trang, gồm 37 điều, đề cập đến nhữn...
-
Financial aid for college - How To Get Student Loans Out Of Default - Government Grants ❶Are you searching for How To Get Student Loans Out ...
-
Financial aid for college - Government Aid For College Students - Government Grants ❶Are you searching for Government Aid For College Studen...
-
Về lý thuyết, hai nhóm DN có loại hình sở hữu khác nhau sẽ dẫn đến những ảnh hưởng về kế toán và thuế: Các doanh nghiệp mà các chủ sở hữu c...




