Friday, October 5, 2012

Giới thiệu Báo cáo COSO 1992 (phần 3)

















KSNB và quá trình quản lý

Báo cáo COSO khẳng định, KSNB là một phần của quá trình quản lý và gắn chặt với quá trình này. Tuy nhiên không phải mọi hành động mà nhà quản lý thực hiện đều là một yếu tố của KSNB. Việc đặt ra mục tiêu của tổ chức chẳng hạn, đây là một trách nhiệm quản lý quan trọng nhưng nó không phải là một bộ phận (yếu tố) của KSNB mà là một tiền đề cho KSNB. Bảng sau minh họa một số hành động của nhà quản lý được xem là một bộ phận của HTKSNB:

Hoạt động của nhà quản lý
Kiểm soát nội bộ
Đặt mục tiêu ở cấp độ toàn đơn vị

Lập kế hoạch chiến lược

Xây dựng các yếu tố của môi trường kiểm soát
             v
Đặt mục tiêu ở cấp độ hoạt động

Nhận dạng và phân tích rủi ro
             v
Quản lý rủi ro

Tiến hành hoạt động kiểm soát
             v
Thu thập và truyền đạt thông tin
             v
Giám sát
             v
Các hoạt động sửa chữa (sửa sai)















Những cách tiếp cận  khác nhau về kiểm soát nội bộ (KSNB)

Nhà quản lý
Nhà quản lý xem xét KSNB từ góc độ toàn bộ tổ chức. Trách nhiệm của nhà quản lý là thiết lập mục tiêu và chiến lược; sử dụng các nguồn lực (con người và vật chất) để đạt được mục tiêu đã định.
Đối với nhà quản lý, KSNB bao gồm chính sách, thủ tục và các hành động nhằm giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu của mình. Nhà quản lý cần chỉ đạo và giám sát các hoạt động của tổ chức, ý thức được các nhân tố ản hưởng (từ bên trong và bên ngoài), nhận diện và đối phó với rủi ro.
KSNB giúp nhà quản lý có các hành động kịp thời khi điều kiện thay đổi nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi hay tận dụng được các thời cơ. KSNB còn giúp nhà quản lý tuân thủ các luật lệ và quy định.

Kiểm toán viên nội bộ
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ (IIA) định nghĩa “SNB là bất kỳ hành động nào được thực hiện bởi nhà quản lý nhằm tăng cường khả năng đạt được các mục tiêu đã định”. IIA cũng giải thích cụ thể về bản chất của các hành động này và khẳng định rằng KSNB là kết quả của quá trình lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện của nhà quản lý[1]. Định nghĩa này cũng thống nhất với quan điểm của IIA về vai trò của kiểm toán nội bộ trong tổ chức. Theo đó, “kiểm toán nội bộ kiểm tra và đánh giá các quá trình lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện nhằm đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu của tổ chức sẽ đạt được”. Như vậy mọi hệ thống, quá trình, chức năng và hoạt động của một tổ chức đều nằm trong phạm vi của KSNB. Trong thực tế, hoạt động của kiểm toán nội bộ sẽ thay đổi tùy thuộc vào điều lệ của tổ chức.

Kiểm toán viên độc lập
Kiểm toán viên độc lập chủ yếu tập trung tìm hiểu HTKSNB về các khía cạnh mà nó hỗ trợ hay ảnh hưởng tới báo cáo tài chính mà thôi. Ban đầu, AICPA định nghĩa KSNB rất rộng “KSNB là chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu cụ thể của tổ chức sẽ đạt được”[2]. Định nghĩa này nhất quán với cách hiểu của nhà quản lý và kiểm toán viên nội bộ nói trên.
Tuy nhiên, sau này định nghĩa của AICPA về KSNB đã được thu hẹp lại cho tương ứng với trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập mà thôi. Các chính sách và thủ tục thích hợp với cuộc kiểm toán báo cáo tài chính khi nó liên quan đến khả năng ghi chép, xử lý, tổng hợp và báo cáo các thông tin tài chính nhất quán với các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính.

Các đối tượng bên ngoài khác

  • Các nghị sĩ và cơ quan quản lý: thường định nghĩa KSNB sao cho phù hợp với trách nhiệm của họ. Các định nghĩa này đề cập đến các loại hoạt động cần được giám sát, yêu cầu báo cáo, sử dụng nguồn lực của tổ chức tuân thủ theo luật pháp và quy định, bảo vệ tài sản khỏi mất mát, lãng phí hay sử dụng sai mục đích
  • Các nhà đầu tư, chủ nợ và các đối tượng khác: cần nhiều loại thông tin thông tin về tổ chức, trong đó chủ yếu là thông tin tài chính. Tuy nhiên các đối tượng này ít có khả năng yêu cầu tổ chức cung cấp thông tin cho mình và họ không dành nhiều quan tâm tìm hiểu về KSNB.
  • Tóm lại, Báo cáo COSO về KSNB là một tài liệu được chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, Báo cáo này không mang tính bắt buộc (như một chuẩn mực) mà chủ yếu mang tính hướng dẫn. Một HTKSNB không có các thành phần hay không đáp ứng được mọi tiêu chí đánh giá nêu trong Báo cáo cũng vẫn có khả năng là một HTKSNB hữu hiệu trên thực tế.

Mai Đức Nghĩa (Bộ môn Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế TPHCM)
(Đọc thêm: Bộ môn Kiểm toán, Kiểm soát nội bộ, Nhà xuất bản Phương Đông, 2010)


[1]Statement on Internal Auditing Standards No. 1, Control: Concepts and Responsibilities
[2]Statement on Auditing Standards No. 55, Consideration of the Internal Control Structure in a Financial Statement Audit (New York: AICPA, 1988), para 6.

Giới thiệu Báo cáo COSO 1992 (phần 2)

















Cấu trúc của Báo cáo COSO (1992)

Báo cáo COSO gồm 4 phần:

Phần 1: Tóm tắt dành cho nhà quản lý
Phần này cung cấp một cái nhìn tổng quát về KSNB ở mức độ cao dành riêng cho các nhà quản lý, giám đốc điều hành, ban giám đốc, các nghị sĩ và cơ quan quản lý nhà nước.

Phần 2: Khuôn khổ chung của KSNB
Đây là phần cơ bản nhất của Báo cáo COSO, trong đó có định nghĩa về KSNB, mô tả các bộ phận hợp thành của KSNB, đưa ra các tiêu chí giúp ban giám đốc, nhà quản lý và các đối tượng khác đánh giá HTKSNB.

Phần 3: Báo cáo cho bên ngoài
Đây là tài liệu bổ sung, cung cấp hướng dẫn cho các tổ chức cách thức báo cáo cho các đối tượng bên ngoài về HTKSNB cho mục tiêu báo cáo tài chính.

Phần 4: Công cụ đánh giá HTKSNB
Đưa ra các hướng dẫn, gợi ý rất thiết thực cho việc đánh giá HTKSNB.

Khuôn khổ chung của KSNB

Định nghĩa

Báo cáo COSO định nghĩa: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

  • Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
  • Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính
  • Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”.

Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.

KSNB là một quá trình: tức khẳng định KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp. KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xâ dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. KSNB phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.

KSNB bị chi phối bởi con người trong đơn vị (bao gồm ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên). Con người đặt ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng tới các mục tiêu đã định. Ngược lại, KSNB cũng tác động đến hành vi của con người. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ưu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi và hành động một cách nhất quán. KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức.

Đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhà quản lý việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong HTKSNB như: sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên HTKSNB.

Các mục tiêu: mỗi đơn vị phải đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới (mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị). Có thể chia các mục tiêu mà đơn vị thiết lập ra thành 3 nhóm sau đây:

  • Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
  • Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: đơn vị phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp.
  • Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: đơn vị phải tuân thủ các luật lệ và quy định.

Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì một mục tiêu cụ thể có thể liên quan đến 2 hoặc 3 nhóm trên. Sự phân chia này chủ yếu dựa vào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với HTKSNB của đơn vị: nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu của đơn vị là chính; nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của cổ đông, nhà đầu tư và chủ nợ; nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan quản lý.

Các bộ phận hợp thành của HTKSNB

Theo Báo cáo COSO (1992) thì một HTKSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là:

  • Môi trường kiểm soát
  • Đánh giá rủi ro
  • Hoạt động kiểm soát
  • Thông tin và truyền thông
  • Giám sát.

Môi trường kiểm soát: tạo ra sắc thái chung trong đơn vị - nơi mỗi người tiến hành các hoạt động và thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình. Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của HTKSNB.

Đánh giá rủi ro: mỗi đơn vị phải ý thức được và đối phó với rủi ro mà mình gặp phải. Tiền đề cho việc đánh giá rủi ro là việc đặt ra mục tiêu (bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của doanh nghiệp. Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng và phân tích các ẻui ro đe dọa các mục tiêu của mình. Trên cơ sở nhận dạng và phân tích các rủi ro, nhà quản lý sẽ xác định rủi ro nên được xử lý như thế nào.

Hoạt động kiểm soát: là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện. Hoạt động kiểm soát diễn ra trong toàn đơn vị ở mọi cấp độ và mọi hoạt động.

Thông tin và truyền thông: các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúp mọi người trong đơn vị thực hiện được nhiệm vụ của mình. Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát đơn vị. Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: từ cấp trên xuống cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau. Mỗi cá nhân cần hiểu rõ vai trò của mình trong HTKSNB cũng như hoạt động của cá nhân có tác động tới công việc của người khác như thế nào. Ngoài ra, cũng cần có sự trao đổi hữu hiệu giữa đơn vị với các đối tượng bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp, cổ đông và các cơ quan quản lý.

Giám sát: là quá trình đánh giá chất lượng của HTKSNB qua thời gian. Những khiếm khuyết của HTKSNB cần được báo cáo lên cấp trên và điều chỉnh lại khi cần thiết.

Trong môi trường kiểm soát, nhà quản lý đánh giá rủi ro đe dọa đến việc đạt được các mục tiêu cụ thể. Hoạt động kiểm soát được tiến hành nhằm đảm bảo rằng các chỉ thị của nhà quản lý nhằm đối phó với rủi ro được thực hiện trong thực tế. Trong khi đó, các thông tin thích hợp cần phải được thu thập và quá trình trao đổi thông tin diễn ra thông suốt trong toàn bộ tổ chức. Quá trình trên sẽ được giám sát và điều chỉnh lại khi cần thiết.

Các bộ phận hợp thành này của HTKSNB có tính linh hoạt cao. Ví dụ: đánh giá rủi ro không chỉ ảnh hưởng đến các hoạt động kiểm soát mà còn có thể chỉ ra nhu cầu xem xét lại thông tin và truyền thông hoặc hoạt động giám sát trong tổ chức. Vì vậy KSNB không đơn giản là một quá trình – ở đó mỗi bộ phận hợp thành chỉ ánh hưởng đến bộ phận kế tiếp – mà thực sự là một quá trình tương tác nhiều chiều – trong đó hầu như bất cứ bộ phận nào cũng có thể ảnh hưởng đến bộ phận khác. Do đó, mặc dù mọi doanh nghiệp đều cần có các bộ phận nói trên nhưng HTKSNB của họ lại rất khác nhau tùy theo ngành nghề, quy mô, văn hóa và phong cách quản lý.

Năm bộ phận cấu thành của một HTKSNB trong Báo cáo cuối cùng là kết quả làm việc của Ban soạn thảo sau rất nhiều cân nhắc và xem xét các ý kiến đóng góp từ nhiều nguồn khác nhau trong quá trình soạn thảo.


Các bộ phận của HTKSNB
(theo Dự thảo)
Các bộ phận của HTKSNB
(theo Báo cáo chính thức)
Chính trực, Giá trị đạo đức, Năng lực
Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát
Mục tiêu
-
Đánh giá rủi ro
Xử lý các điều kiện thay đổi
Đánh giá rủi ro
Thủ tục kiểm soát
Hoạt động kiểm soát
Hệ thống thông tin
Truyền thông
Thông tin và Truyền thông
Giám sát
Giám sát

Các ý kiến cho rằng 9 bộ phận cấu thành của HTKSNB như  Dự thảo là quá nhiều và có sự trùng lắp giữa chúng, do đó nên lược bỏ bớt  một số bộ phận. Chẳng hạn:

  • Bộ phận “Mục tiêu” đã được bỏ đi khỏi HTKSNB. Các ý kiến đóng góp cho rằng việc đặt ra mục tiêu của đơn vị là một bộ phận của quá trình quản lý chứ không phải là một bộ phận của HTKSNB. Không có HTKSNB nào được thiết lập cho một tổ chức (đơn vị) mà tổ chức (đơn vị) ày lại hoạt động không có mục tiêu rõ ràng. Như vậy mục tiêu là cái có trước, HTKSNB là cái ra đời sau nhằm giúp đơn vị đạt được mục tiêu đã định đó. Mục tiêu chính là tiền đề cho việc thiết lập HTKSNB.
  • “Thủ tục kiểm soát” được thay bằng “Hoạt động kiểm soát” để phản ánh ý tưởng rằng hoạt động kiểm soát bao gồm cả chính sách và thủ tục kiểm soát.
  • Thuật ngữ “Hệ thống thông tin” được thay bằng “Thông tin” nhằm tránh sự hiểu nhầm rằng đây chỉ là hệ thống xử lý dữ liệu trong đơn vị mà thôi. Bộ phận “Thông tin và Truyền thông” là khái niệm rộng hơn nhiều so với hệ thống xử lý dữ liệu.

Mối quan hệ giữa mục tiêu của tổ chức và các bộ phận hợp thành của HTKSNB

Có mối liên hệ trực tiếp giữa mục tiêu của tổ chức – là những cái cần đạt được – với các bộ phận hợp của HTKSNB – là đại diện cho những cái cần có để đạt được mục tiêu. Hãy tưởng tượng có một khối hình chữ nhật lớn được tạo thành từ nhiều khối chữ nhật nhỏ hơn. Ở khối chữ nhật lớn này:

  • Ba nhóm mục tiêu (mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và tuân thủ) được đặc trưng bởi các cột thẳng đứng (có tổng cộng 3 cột).
  • Năm bộ phận cấu thành của HTKSNB được đặc trưng bởi các hàng ngang (có 5 hàng tất cả).
  • Các đơn vị con hoặc các hoạt động cụ thể của đơn vị được đặc trưng bởi chiều thứ  3 của khối chữ nhật (có thể có rất nhiều dơn vị con hoặc hoạt động cụ thể, tùy doanh nghiệp)

Mối quan hệ giữa mục tiêu của tổ chức và các bộ phận hợp thành của HTKSNB được mô tả như sau:
Mỗi hàng ngang (một bộ phận của HTKSNB) đều cắt cả ba cột (3 nhóm mục tiêu). Tức là mỗi bộ phận của HTKSNB thì cần thiết cho việc đạt được cả ba nhóm mục tiêu. Ví dụ các thông tin tài chính và phi tài chính – là một thành phần của bộ phận Thông tin và Truyền thông – thì cần thiết cho việc quản lý đơn vị một cách hữu hiệu và hiệu quả đồng thời cũng cần thiết cho việc lập ra báo cáo tài chính đáng tin cậy và cũng cần thiết cho việc đánh giá sự tuân thủ luật lệ và quy định của đơn vị.
Tương tự, mỗi cột (một mục tiêu đều cắt cả 5 hàng ngang (5 bộ phận hợp thành của HTKSNB). Tức là cả 5 bộ phận hợp thành của HTKSNB đều hữu ích và quan trọng trong việc đạt được 1 trong 3 nhóm mục tiêu nói trên. Ví dụ để doanh nghiệp hoạt động một cách hữu hiệu và hiệu quả thì rõ ràng cả 5 bộ phận của HTKSNB đều quan trọng và góp phần tích cực vào việc đạt được mục tiêu này.
KSNB liên quan đến từng bộ phận, từng hoạt động của tổ chức và toàn bộ tổ chức nói chung. Mối quan hệ này được thể hiện ở chiều thứ 3 của khối hình chữ nhật. Ví dụ khối chữ nhật có dấu X nói lên rằng môi trường kiểm soát có ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động của một phòng chức năng trong tổ chức (ví dụ phòng kinh doanh).

Sự hữu hiệu của HTKSNB

HTKSNB của các tổ chức khác nhau được vận hành với các mức độ hữu hiệu khác nhau. Tương tự như thế, một HTKSNB cụ thể cũng hoạt động khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Vậy thế nào là một HTKSNB hữu hiệu (xét ở một thời điểm xác định) ? Báo cáo COSO (1992) cho rằng: sự hữu hiệu của một HTKSNB có thể được xem xét theo một trong ba nhóm mục tiêu khác nhau nếu ban giám đốc và nhà quản lý đảm bảo hợp lý rằng:

  • Họ hiểu rõ mục tiêu hoạt động của tổ chức đang đạt được ở mức độ nào
  • Báo cáo tài chính đang được lập và trình bày một cách đáng tin cậy
  • Các luật lệ và quy định đang được tuân thủ.

Như vậy, trong khi khẳng định KSNB là một quá trình thì sự hữu hiệu của HTKSNB lại là một trạng thái (tình trạng) của quá trình đó ở một thời điểm xác định mà thôi. Việc đánh giá sự hữu hiệu của một HTKSNB thì mang tính xét đoán. Để đánh giá một HTKSNB là hữu hiệu (nói chung) thì ngoài 3 tiêu chí trên cần phải đánh giá thêm là:

  • Năm bộ phận cấu thành của HTKSNB có hiện hữu hay không?
  • Nếu có, thì chúng có đang hoạt động hữu hiệu không?

Có thể thấy, 5 bộ phận cấu thành của một HTKSNB cũng chính là tiêu chí để đánh giá sự hữu hiệu của HTKSNB đó. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, 5 tiêu chí trên cần được thỏa mãn khi đánh giá sự hữu hiệu của HTKSNB thì điều này không có nghĩa là mỗi bộ phận hợp thành của HTKSNB đều phải hoạt động y hệt như nhau hoặc cùng mức độ ở các tổ chức khác nhau. Lý do nêu ra trong Báo cáo COSO là: 

Có sự bù trừ tự nhiên giữa các bộ phận của HTKSNB. KSNB phục vụ cho nhiều mục đích vì vậy việc kiểm soát ở bộ phận này có thể phục vụ cho yêu cầu kiểm soát ở bộ phận kia.

Để đối phó với một rủi ro cụ thể, nhà quản lý có thể đề ra nhiều mức độ kiểm soát khác nhau ở các bộ phận khác nhau. Các yếu tố này sẽ làm cho 5 tiêu chí trên được thỏa mãn mà không nhất thiết phải có sự đồng nhất về mức độ hoạt động của các bộ phận.

Năm bộ phận cấu thành HTKSNB và 5 tiêu chí trên áp dụng cho toàn bộ HTKSNB hoặc cho một (một số) nhóm mục tiêu. Khi xem xét một trong 3 nhóm mục tiêu, chẳng hạn KSNB đối với việc lập báo cáo tài chính thì cả 5 tiêu chí nêu trên đều phải được thỏa mãn để giúp chúng ta đưa ra nhận xét rằng KSNB đối với việc lập báo cáo tài chính là hữu hiệu.

Mai Đức Nghĩa (Bộ môn Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế TPHCM)

Giới thiệu Báo cáo COSO 1992 (phần 1)














COSO là gì?

COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Uy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (The National Commission on Fraudulent Financial Reporting  hay còn gọi là Treadway Commission). Hội đồng quốc gia này được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức là:

  • Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA)
  • Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association)
  • Hiệp hội quản trị viên tài chính (the Financial Executives Institute – FEI)
  • Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants – IMA)
  • Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (the Institute of Internal Auditors – IIA)

Sự ra đời của Hội đồng quốc gia theo sau hàng loạt các sự kiện về tài chính và chính trị ở nước Mỹ thời bấy giờ như vụ Watergate (1973) dẫn đến sự ra đời của Luật chống hối lộ ở nước ngoài (1977); AICPA thành lập một Uy ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979); Uy ban quản lý chứng khoán Mỹ (SEC) đưa ra quy định bắt buộc các giám đốc phải đưa ra báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp[1](1979); AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán số 30[2] (1980); Hội kiểm toán viên nội bộ ban hành chuẩn mực số 1[3] (1983); AICPA ban hành hướng dẫn bổ sung về tác động của việc xử lý bằng máy tính đến kiểm soát nội bộ.

Các sự kiện trên có một điểm chung đó là làm dấy lên sự quan tâm của công chúng đến vấn đề kiểm soát nội bộ bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước, các nghị sĩ, các giám đốc điều hành, các kế toán và kiểm toán viên…vv. Thực tế trên đã tạo ra rất nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về kiểm soát nội bộ (KSNB) cũng như cách thức đánh giá thế nào là một hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các hội nghề nghiệp, giới doanh nhân và học giả. Báo cáo COSO ra đời nhằm đưa ra một định nghĩa, một cách hiểu chung được chấp nhận rộng rãi về KSNB và cũng nhằm hỗ trợ các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện kiểm soát tốt hơn doanh nghiệp của mình.

Quá trình hình thành Báo cáo COSO

Báo cáo COSO (sau đây gọi tắt là Báo cáo) là kết quả của một dự án được thực hiện qua bảy giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Thu thập các tài liệu từ trước đến nay về KSNB
Các tài liệu đựơc thu thập có thể đề cập trực tiếp đến KSNB cho mục tiêu lập báo cáo tài chính hoặc KSNB nói chung (ví dụ: thu thập các tiêu chuẩn nhằm đánh giá sự hữu hiệu của KSNB tại một cơ sở y tế, một trường học hay một bộ phận chức năng trong doanh nghiệp). Ban soạn thảo đã đọc tóm tắt của khoảng 1.700 bài báo, tựa sách và các ấn phẩm khác và chọn ra 700 tài liệu để nghiên cứu chi tiết.

Giai đoạn 2: Phỏng vấn
Ban soạn thảo chọn ngẫu nhiên 45 cá nhân để phỏng vấn họ về KSNB (bao gồm 14 giám đốc tài chính, 8 đại diện từ các cơ quan quản lý nhà nước, 8 giám đốc của các công ty kiểm toán có quy mô khác nhau, 5 học giả và một số cá nhân khác). Kết quả phỏng vấn được tổng hợp theo mẫu thống nhất.

Giai đọan 3: Gửi bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập các ý kiến bổ sung cho một số vấn đề mà Ban soạn thảo thấy cần phải làm rõ thêm. Các vấn đề này được chọn ra từ kết quả của hai giai đoạn trước. Ban soạn thảo đã nhận được 522 Phiếu trả lời từ nhiều đối tượng khác nhau như: các nhà quản lý, các giám đốc tài chính, các kiểm soát viên, kiểm toán viên nội bộ và độc lập, các nghị sĩ và học giả.

Giai đoạn 4: Tổ chức hội thảo
Tổng cộng 8 hội thảo đã được tổ chức để thu thập ý kiến cho Dự thảo báo cáo sơ bộ (bao gồm 5 hội thảo độc lập do 5 tổ chức tài trợ chủ trì cùng với 3 hội thảo chung). 

Giai đoạn 5: Dự thảo báo cáo
Sau các hội thảo trên, Ban soạn thảo đã hình thành được Dự thảo báo cáo và phát ra 40.000 bản nhằm tiếp tục lấy ý kiến đóng góp. Kết quả là Ban soạn thảo đã nhận được 211 thư góp ý cho Dự thảo.

Giai đoạn 6: Kiểm nghiệm thực tế
Nội dung của Dự thảo được kiểm nghiệm thực tế tại 5 công ty thuộc các ngành nghề khác nhau (quy mô các công ty từ mức dưới 10 triệu đô la Mỹ doanh thu mỗi năm cho tới hàng tỷ đô la. Ban soạn thảo xem xét các bộ phận của HTKSNB được vận dụng trong thực tế như thế nào. Mỗi bộ phận được tập trung vào ít nhất một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp. Ngoài ra Ban soạn thảo cũng đánh giá các thủ tục kiểm soát đối với từng mục tiêu như mục tiêu báo cáo tài chính, mục tiêu hoạt động và mục tiêu tuân thủ.

Giai đoạn 7: Sửa đổi và hoàn thiện Dự thảo
Sau giai đoạn kiểm nghiệm thực tế trên, 3.000 bản Dự thảo (sửa đổi) đã được phát ra nhằm thu thập thêm ý kiến và Ban soạn thảo đã nhận được 45 thư góp ý. Sau đó, 12 cuộc họp (quy mô tương đương cuộc hội thảo) cũng đã được tổ chức để nghe các góp ý từ đại diện của SEC, Ngân hàng trung ương Mỹ, Hiệp hội ngân hàng Mỹ (ABA) và đại diện của 5 tổ chức tài trợ. Ngoài ra, rất nhiều cá nhân từ các trường đại học, các doanh nghiệp, công ty kiểm toán, tư vấn đã có những đóng góp bổ ích cho quá trình soạn thảo. Kết quả là Báo cáo COSO đã được ban hành năm 1992 như chúng ta thấy ngày nay.

Mai Đức Nghĩa (Bộ môn Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế TPHCM)


[1]Statement of Management on Internal Accounting Control (SEC Release  No. 34-15772)
[2]Statement on Auditing Standards No. 30, Reporting on Internal Accounting Control
[3]Statement on Internal Auditing Standards No. 1, Control: Concepts and Responsibilities

Chuyên đề 5/2012: Kiểm soát nội bộ và Quản trị rủi ro


















Ngày 19/7, Câu lạc bộ sinh hoạt với hai nội dung:  Cập nhật báo quốc tế và Báo cáo chuyên đề Kiểm soát nội bộ và Quản trị rủi ro.

Trong phần cập nhật báo quốc tế, diễn giả giới thiệu tạp chí kế toán The Accounting Review (TAR) . Đây là một trong những tạp chí kế toán được xếp hàng đầu trên thế giới.  TAR là tạp chí học thuật của Hội Kế toán Hoa Kỳ (American Accounting Association) được lập năm 1926. Tổng biên tập hiện nay là  Giáo sư Steven J. Kachelmeier (University of Texas at Austin). Nội dung bao gồm giới thiệu số báo mới nhất tháng 7.2012 (Vol. 87, No. 4). Trong số này có 12 bài báo, tất cả đều là bài báo nghiên cứu gốc (original reaserch article). Có 9 bài báo có chủ đề là kế toán tài chính, 2 bài báo về kế toán quản trị và 1 bài về kiểm toán.
Download slide:

Chuyên đề Kiểm soát nội bộ và Quản trị rủi ro đề cập đến sự hình thành của khái niệm kiểm soát nội bộ và Báo cáo COSO 1992. Hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp cũng được trình bày theo Báo cáo COSO 2004.
Download slide:

Các website tham khảo:

Popular Posts